Tuesday, April 26, 2011

MACV-SOG / Military Assistance Command, Vietnam - Studies and Observations Group





I. SỰ THÀNH LẬP
        Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (Study and Observation Group, MACV-SOG, MACSOG, SOG) là một đơn vị kết hợp đặc biệt được Bộ TTM Quân Lực Hoa Kỳ thành lập ngày 24 tháng Giêng năm 1964, cho Chiến Tranh Ngoại Lệ. Đơn vị SOG trực thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV), quy tụ các quân nhân Hoa Kỳ thuộc Lực Lượng Đặc Biệt, Người Nhái Hải Quân SEAL, Không Quân, phòng Đặc Biệt cơ quan tình báo CIA, và các đơn vị Viễn Thám TQLC/HK.
        Xanh xưng đầu tiên của đơn vị là Liên Đoàn Hành Quân Đặc Biệt, dưới sự chỉ huy của phòng Phản Gián và các Hoạt Động Đặc Biệt (SACSA), bộ Quốc Phòng. Đây là một sự xắp xếp đặc biệt, Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam, đại tướng William Westmoreland, không có thẩm quyền ra lệnh cho các hoạt động ngoài phần đất miền nam Việt Nam. Với hệ thống chỉ huy này, đơn vị SOG bị “theo dõi” rất kỹ qua cơ quan SACSA và đến cả Tổng Thống Hoa Kỳ. Nhiệm vụ của đơn vị SOG là “Thực hiện những công tác quấy rối, phá hoại, đánh lạc hướng, tạo áp lực chính trị, thâu thập tin tức tình báo, bắt cóc tù binh, tuyên truyền chống lại chính quyền miền Bắc Việt Nam”.
        Những công tác đặc biệt này nằm trong Hành Quân 34A (Oplan 34-Alpha) nhằm khuyến cáo chính quyền miền Bắc Việt Nam phải chấm dứt việc đưa quân xâm nhập vào miền nam. Trong kế hoạch đánh phá hậu phương miền bắc, Hành Quân 34A đã đưa những toán biệt kích xâm nhập vào miền bắc bằng phương tiện thả dù, và cho những toán biệt kích hải quân (Biệt Hải), người nhái đánh phá dọc theo bờ biển miền bắc.
        Đại tá Clyde Russell là cấp chỉ huy đầu tiên của đơn vị SOG, ông ta gặp nhiều khó khăn tổ chức đơn vị đặc biệt để hoàn thành sứ mạng khó khăn. Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ chưa được sửa soạn, tổ chức cho những nhiệm vụ kể trên. Lúc đó đoàn quân Mũ Xanh chỉ được huấn luyện loại chiến tranh du kích đằng sau lưng địch, trợ lực cho một đạo quân chính quy. Họ chưa được huấn luyện về ngành điệp viên, tình báo, biệt hải, và tâm lý chiến. Quân Lực VNCH có một đơn vị, phối hợp làm việc với đơn vị SOG là Nha Kỹ Thuật.


II. HÀNH QUÂN SHINING BRASS
        Ngày 21 tháng Chín năm 1965, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ chấp thuận cho đơn vị SOG tổ chức những chuyến hành quân ngoại biên, xâm nhập qua đất Lào, dọc theo đường biên giới nam Việt Nam. Đơn vị SOG đã đệ trình kế hoạch Hành Quân Shining Brass xâm nhập qua đất Lào từ năm 1964, dò thám con đường mòn chuyển quân, đồ trang bị,  tiếp vận của quân đội Bắc Việt trên đất Lào (đường mòn HCM, đường Trường Sơn).
        Cơ quan MACV đã yêu cầu Không Lực 7 (7th Air Force, Không Quân Chiến Lược) Hoa Kỳ từ Thái Lan oanh kích, thả bom hệ thống tiếp vận của địch nơi phía nam nước Lào (Chiến dịch Steel Tiger). Tiếp theo được chấp thuận đưa những toán biệt kích Việt Nam (hoàn toàn người Việt) xâm nhập qua đất Lào, dò thám hệ thống đường mòn HCM (Hành quân Leaping Lena). Hành quân Leaping Lena là một thất bại lớn, do đó sự có mặt của quân nhân LLĐB/HK trong những toán biệt kích là điều cần thiết, và đơn vị SOG được chấp thuận.
        Đến tháng mười Một, toán biệt kích đầu tiên do người Hoa Kỳ chỉ huy, xâm nhập qua Lào, dò thám mục tiêu “Alpha-1”, một khu vực tình nghi (không ảnh) có bãi đậu xe vận tải Molotova của địch trên đường 165, nằm sâu 15 cây số trên đất Lào. Chuyến hành quân xâm nhập thành công nhưng các hoạt động bí mật trên đất Lào có thể bị thất bại, không phải do địch quân mà là Đại Sứ Hoa Kỳ bên Lào, William H. Sullivan. Ông ta muốn kiểm soát các hoạt động của đơn vị SOG trên đất Lào và muốn bảo vệ nên trung lập của quốc gia này.
        Trận nội chiến ở bên Lào giữa cộng sản Pathet Lào (được Bắc Việt yểm trợ) và quân đội Hoàng Gia (được CIA, dân thiểu số Hmong, dưới quyền Tướng Vang Pao yểm trợ) đã làm cho quốc gia tả tơi. Cả hai bên đều đánh... cầm chừng. Hà Nội đưa quân qua Lào để bảo vệ hành lang tiếp vận cho miền nam Việt Nam, người Hoa Kỳ đứng về phiá bên kia. Cả hai (Bắc Việt và Hoa Kỳ) đều vi phạm nền trung lập của nước Lào.
        Đơn vị SOG bắt đầu mở những cuộc hành quân xâm nhập vào đất Lào, và tiếp tục gia tăng trong vòng tám năm sau đó. Những chuyến hành quân qua Lào, khởi thủy do bộ chỉ huy Bắc (CCN) đóng ở Đà Nẵng đảm trách. Các toán biệt kích thường có ba quân nhân LLĐB/HK, từ ba đến mười hai quân tình nguyện, đa số người Thượng. Các toán biệt kích được đưa lên các căn cứ hành quân tiền phương (FOB), gần biên giới Lào-Việt ở Khâm Đức, Khe Sanh, Kontum trước khi xâm nhập qua đất Lào.
        Sau khi đã chuẩn bị và huấn luyện, một toán biệt kích SOG sẽ được trực thăng TQLC/HK (ngoài vùng I chiến thuật) hoặc trực thăng H-34 thuộc phi đoàn 219 Không Lực VNCH đưa đến bãi đáp xâm nhập. Phi đoàn 219 có danh hiệu “King Bee” rất nổi tiếng trong lịch sử đơn vị SOG. Nhiệm vụ của toán biệt kích, xâm nhập vào mục tiêu, dò thám lấy tin tức. Phi cơ quan sát FAC sẽ bao vùng, cung cấp tin tức, tiếp vận truyền tin liên lạc giữa toán biệt kích và căn cứ hành quân tiền phương.
        Đến cuối năm 1965, đơn vị SOG bao gồm luôn các hoạt động đánh phá các mục tiêu dọc theo bờ biển miền bắc Việt Nam. Nha Kỹ Thuật VNCH thành lập trung tâm huấm luyện Quyết Thắng ở Long Thành để huấn luyện các toán “Lôi Hổ”. Các toán biệt kích SOG Hoa Kỳ vẫn được huấn luyện ở Khâm Đức (cho đến năm 1968, khi trại LLĐB Khâm Đức di tản).

III. HÀNH QUÂN DANIEL BOONE
        Trong năm 1966, 1967, cơ quan MACV đã nhận thấy rõ, quân đội Bắc Việt đang xử dụng quốc gia trung lập Cambodia, một phần trong hệ thống tiếp vận, chuyển quân, vũ khí đạn dược đến phần đất cuối miền nam Việt Nam. Người Hoa Kỳ vẫn chưa biết rõ, Bắc Việt xử dụng đất Cambodia như thế nào. Câu trả lời làm những phân tích gia ngạc nhiên, Ông Hoàng Sihanouk cho phép sự hiện diện của quân đội Bắc Việt trên đất Miên. Mặc dầu đường 110 từ khu vực phiá nam nước Lào, cùng tam biên đã được nối dài vào đất Miên, Hà Nội được phép xử dụng hải cảng Sihanoukville để chuyển đồ tiếp vận qua đường biển. Đồ trang bị, tiếp vận được gửi từ miền Bắc đến hải cảng, sau đó được xe vận tải chở đến những căn cứ điạ trên đất Miên.
        Trong tháng Tư năm 1967, đơn vị SOG được chấp thuận bắt đầu Hành Quân Daniel Boone, xâm nhập qua đất Miên. Cả hai đơn vị SOG và liên đoàn 5 LLĐB/HK đều đã chuẩn bị hành quân xâm nhập qua Miên. (SOG tuyển mộ nhân viên từ liên đoàn 5 LLĐB. Có thể nói SOG là một thứ “LLĐB” trong LLĐB). Liên đoàn 5 LLĐB/HK tiến xa hơn tổ chức Hành Quân Sigma và Hành Quân Omega dựa theo Hành Quân Shining Brass của đơn vị SOG.
        Hai hành quân này được các đơn vị Hoa Kỳ xử dụng để dò thám, ngoài vùng I và II chiến thuật (Delta cho cả bốn vùng chiến thuật, như một đơn vị tổng trừ bị), trong khi chờ đợi sự chấp thuận vượt biên qua Miên. Cả hai đơn vị SOG và liên đoàn 5 LLĐB tranh dành nhiệm vụ, và bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Hoa Kỳ quyết định trao trách nhiệm Hành Quân Sigma, Omega cho đơn vị SOG (đặt dưới quyền chỉ huy, điều hành của đơn vị SOG).
        Cuộc hành quân xâm nhập vào đất Miên lần đầu tiên trong tháng Chín do bộ chỉ huy (Nam, CCS) mới thành lập ở Ban Mê Thuột đảm trách. Những toán biệt kích SOG xâm nhập qua đất Miên bị nhiều giới hạn hơn so với những toán khác xâm nhập vào đất Lào. Lức mới bắt đầu, các toán biệt kích chỉ được trực thăng đưa đến một bãi đáp gần biên giới Việt-Miên, rồi từ đó lội bộ xâm nhập qua đất Miên (trực thăng, phi cơ Hoa Kỳ không được phép bay qua đất Miên). Họ cũng không được phi cơ thám thính FAC bay bao vùng như trên đất Lào. Với những điều kiện kể trên, những toán biệt kích qua đất Miên thường ít người hơn, để dễ lẩn tránh địch quân.
        Những toán biệt kích SOG được tăng cường thêm với sự thành lập các đại đội Khai Thác (Hatchet Force, Exploitation Force), để tiếp ứng các toán biệt kích trong trường hợp khẩn cấp, hoặc tấn công một mục tiêu đặc biệt trên đường mòn HCM. Đơn vị SOG có hai (sau này ba) tiểu đoàn Khai Thác (Haymaker), chia ra đại đội (Hatchet) và trung đội (Hornet).
        Các cuộc hành quân của đơn vị SOG đều được giữ bí mật, nhưng có tờ báo Hoa Kỳ đăng một bài viết về Hành Quân Shining Brass, nên đơn vị SOG đổi tên mới Prairie Fire cho những chuyến xâm nhập qua đất Lào. Hành Quân Prairie Fire (Lào) kết hợp với Hành Quân Daniel Boone (qua Miên) thành một đơn vị mới “Đoàn Nghiên Cứu trên Bộ” (Ground Studies Group, Oplan-35). Tất cả các hoạt động ngoài miền bắc Việt Nam, gom lại trong chương trình mới, lấy tên là Footboy, bao gồm các hoạt dộng trên biển (biệt hải, người nhái) Plowman, chiến tranh tâm lý Humidor, điệp viên Timberwork, và không quân Midriff.
        Những toán biệt kích nhẩy dù xuống miền bắc, nằm vùng dài hạn đều bị bắt gần hết, đơn vị SOG đưa ra một chương trình mới, đưa những toán biệt kích xâm nhập miền bắc trong một thời gian ngắn hạn, khu vực hoạt động nơi phiá nam của miền bắc, và toán biệt kích ít người hơn. Qua kinh nghiệm những toán ra miền bắc trước đây, đơn vị SOG tìm đủ mọi cách để triệt xuất toán biệt kích. Đó là những toán biệt kích Strata, hoàn toàn người Việt Nam. Nhiều toán biệt kích Strata xâm nhập vào miền bắc Việt Nam và trở về an toàn.
 IV. ĐOẠN KẾT
        Năm 1969, “Đoàn Ngiên Cứu trên Bộ” đơn vị SOG có ba bộ chỉ huy: Bắc (CCN) ở Đà Nẵng đảm trách Hành Quân Prairie Fire (đông nam nước Lào), Trung (CCC) trên Pleiku đảm trách khu vực tam biên (phiá nam nưóc Lào, phiá bắc Cambodia, khoảng giữa hai hành quân Prairie Fire và Daniel Boone đã đổi tên Salem House), Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột đảm trách Hành Quân Daniel Boone (Cambodia).
        Năm 1969 là năm “bận rộn” cho đơn vị SOG. Trong Hành Quân Prairie Fire, bộ chỉ huy Bắc tổn thất 20 quân nhân Hoa Kỳ, 199 người khác bị thương và 9 người báo cáo mất tích. Số biệt kích quân Thượng tổn thất 57 người chết, 270 bị thương và 31 mất tích.
        Đến cuối tháng Ba năm 1971, liên đoàn 5 LLĐB/HK rời Việt Nam, đơn vị SOG tái tổ chức ba bộ chỉ huy, thành ba ban cố vấn TF1AE, TF2AE, và TF3AE. Tất cả các đại đội Khai Thác Hatchet Force đều bị giải tán. Đến ngày 1 tháng Năm 1972, đơn vị SOG chỉ còn lại toán cố vấn cho Nha Kỹ Thuật (STDAD-158). Các hành quân đổi tên Việt Nam Prairie Fire thành Phù Dung, Salem House thành Thốt Nốt. Đến ngày 12 tháng Ba năm 1973, đơn vị SOG hoàn toàn giải tán.

Dallas,Texas 
vđh

BIỆT KÍCH 34A

        Ngày 26 tháng Mười Một năm 1963, Tổng Thống Johnson tuyên bố sẽ tiếp tục theo đuổi đường lối cứng rắn của Tổng Thống Kennedy về các hoạt động bí mật, ký thuận chương trình NSAM273. Cho phép gia tăng những hoạt động bí mật chống lại miền bắc Việt Nam, trong đó có việc thả những toán biệt kích ra ngoài bắc trong Hành Quân 34A, và gia tăng mức độ cho những toán biệt kích xâm nhập vào nước Lào sâu 50 cây số.

        Với sự chấp thuận này, Tổng Thống Johnson có ba mục đích: thứ nhất, chính quyền Hà Nội phải chấm dứt các hoạt động trong miền nam. Thứ hai, thực hiện kế hoạch Tâm Lý Chiến, tuyên truyền người dân miền bắc. Thứ ba, gia tăng các hoạt động bán quân sự (tổ chức kháng chiến), gây khó khăn cho quân đội, chính quyền miền bắc. Và ông ta hy vọng chính quyền miền bắc sẽ cảm thấy tình hình không được sáng sủa cho họ và phải rút quân đội từ bên Lào và trong miền nam trở về miền bắc.

        Ngày 21 tháng Mười Hai, Tổng Thống Johnson họp với bộ trưởng Quốc Phòng McNamara, giám đốc cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA John McCone để bàn về Hành Quân (Chương Trình) 34A. Họ quyết định thực hiện những hoạt động bí mật, để đỡ bị tổn thất, và tránh dư luận Quốc Tế. Ủy ban Krulak được thành lập để xét lại Hành Quân 34A, thứ nhất, tìm hiểu xem Hà Nội sẽ trả đũa như thế nào cho các hoạt động bí mật này. Thứ hai, thăm dò dư luận Quốc Tế. Sau khi nghiên cứu, ủy ban Krulak khuyến cáo, Hành Quân 34A phải thu hẹp lại, và Tổng Thống Johnson ký thuận những lời khuyến cáo của ủy ban Krulak trong tháng Giêng năm 1964.

        Bộ tư lệnh Quân Viện MACV trong Saigon ban hành quyết định “General Order 6”, thành lập một đơn vị “tối mật” được biết đến qua danh hiệu MACV-SOG hay SOG (Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát) để thi hành những hoạt động bí mật theo lệnh của Tổng Thống Johnson.

        Theo tài liệu “The Secret War Against Hanoi”, tác giả Richard Schultz, Jr. tìm lại những hoạt động của đơn vị SOG nơi miền bắc Việt Nam, sau đó phát triển sang Lào và Cambodia. Mục đích chính của đơn vị SOG, gửi những toán biệt kích xâm nhập ra miền bắc, phá rối hậu phương, tâm lý chiến, đưa những toán biệt kích hải quân (biệt hải) đánh phá hải phận miền bắc, và phá hoại đường mòn HCM.

        Để yểm trợ cho những hoạt động bí mật này, đơn vị SOG có ba ngành, trong đó có Không Yểm, bao gồm tất cả các loại phi cơ chiến thuật, trực thăng và phi cơ vận tải, đóng trong các căn cứ không quân trong miền nam Việt Nam và Thái Lan.

        Tướng William Westmoreland, tư lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã báo cáo cho Bộ Quốc Phòng / bộ TTM Quân Lực Hoa Kỳ (Pentagon), những hoạt động của đơn vị SOG không đem lại nhiều kết qủa trong trận chiến với Hà Nội. Trong vòng sáu tháng kế tiếp, quân đội Hoa Kỳ không thèm để ý đến đơn vị SOG. Đô Đốc Harry Felt, vẫn tiếp tục cho những toán biệt hải, bắn phá bờ biển miền bắc, nhưng những toán biệt kích hoạt động nơi miền bắc Việt Nam, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ không màng tới.

        Chỉ còn lại bốn toán biệt kích cùng với một điệp viên đơn độc (singleton) cẫn còn hoạt động nơi miền bắc, được cơ quan CIA bàn giao cho đơn vị SOG vào đầu năm 1964. Năm đó, SOG đưa ra miền bắc khoảng 250 biệt kích quân, bằng phương tiện thả dù, đường biển và đường bộ.

        Cơ quan CIA cung cấp cho đơn vị SOG đủ loại “đồ nghề” trong chiến tranh ngoại lệ. Những toán biệt kích SOG mặc quân phục lính Bắc Việt, võ trang tiểu liên AK-47, đem theo mìn bẫy, dụng cụ nghe lén điện thoại, v.v... Các loại vũ khí trong khối cộng sản kể cả súng cối 82 ly, sản xuất từ Trung Cộng, cơ quan CIA mua lại từ một quốc gia đệ tam, cung cấp cho đơn vị SOG.

        Ngoài ra đơn vị SOG có một đài tiếp vận truyền tin, liên lạc, nằm trên đỉnh một ngọn núi cao trên đất Lào, quân đội Bắc Việt không thể lên tới được. Đài tiếp vận này rất quan trọng, cho những biệt kích quân bị thất lạc (trong lúc gia tranh với quân đội Bắc Việt), liên lạc với bộ chỉ huy hoặc các toán biệt kích khác.

        Trong khoảng thời gian từ tháng Tư 1964 đến tháng Muời năm 1967, có khoảng 40 toán biệt kích, và điệp viên đơn độc được đưa ra xâm nhập miền bắc. Bốn toán biệt kích có tên Bell, Remus, Tourbillon, và Easy. Toán biệt kích thứ năm, Europa và những điệp viên đơn độc của cơ quan CIA, khi bàn giao cho đơn vị SOG cũng “được” thả xuống miền bắc.

        Toán biệt kích Remus nhẩy dù xuống khu vực gần Điện Biên Phủ ngày 16 tháng Tư năm 1962. Nhiệm vụ của họ thiết lập một căn cứ bí mật, từ đó phát xuất đi những chuyến dò thám lấy tin tức. Ngoài ra toán biệt kích còn có thêm nhiệm vụ thâu thập những tin tức, tình hình chính trị miền bắc và những bản báo cáo của quân đội Bắc Việt, tìm những bãi thả dù để nhận đồ tiếp liệu cũng như những toán biệt kích khác. Toán biệt kích Remus thành công, phá xập vài chiếc cầu, nhưng trong năm 1968, mọi sự liên lạc với toán biệt kích Remus chấm dứt. Sau đó một tù binh Bắc Việt khai, có nghe nói toán biệt kích Mỹ Remus bị bắt trong tháng Sáu năm 1962.

        Toán biệt kích Eagles được thả dù xuống khu vực gần biên giới Việt-Trung ngày 27 tháng Sáu năm 1964, với nhiệm vụ phá hoại đường xá, đường rầy xe lửa, và một căn cứ không quân. Họ chưa hoàn thành nhiệm vụ, đã được lệnh di chuyển về hướng nam rồi sau đó mất liên lạc.

        Toán biệt kích Romero gồm mười người được trực thăng đưa vào xâm nhập khu vực nơi hướng bắc vùng phi quân sự. Toán biệt kích có nhiệm vụ theo dõi các cuộc chuyển quân của quân đội Bắc Việt từ miền bắc vào đất Lào (sau đó vào miền nam Việt Nam), và quấy rối, phá hoại con đường chiến luợc của quân đội Bắc Việt (đường mòn HCM). Trong những bản báo cáo của đơn vị SOG, toán biệt kích Romero không trả lời những tin tức đòi hỏi trong năm 67, 68.

        Toán biệt kích Hadley, xâm nhập miền bắc bằng cách băng qua vùng phi quân sự. Toán biệt kích có nhiệm vụ theo dõi mức độ chuyển quân của quân đội Bắc Việt trên các con đường chạy qua Lào, và chỉ điểm cho không quân oanh kích đoàn xe chở quân của địch. Toán biệt kích Hadley có báo cáo về cho đơn vị SOG, nhưng những tin tức của họ không có giá trị.

        Toán biệt kích Tourbillon nhẩy dù xuống khu vực gần biên giới Lào Việt. Toán biệt kích cuối cùng nhẩy dù xuống miền bắc là toán Red Dragon. Ngày 21 tháng Chín năm 1967, toán biệt kích Red Dragon bẩy người nhẩy dù xuống khu vực nơi phiá nam biên giới Việt-Trung. Cả hai toán biệt kích có nhiệm vụ dò thám lấy tin tức và phá hoại đường xá, cầu cống. Lần cuối cùng toán Red Dragon liên lạc năm 1969, người Hoa Kỳ nghi ngờ toán biệt kích đã bị bắt, gửi những báo cáo sai lạc về.

        Trong chiến tranh tâm lý, người Hoa Kỳ cho phi cơ thả radio, đã được điều chỉnh trước xuống miền bắc, để nghe hai đài phát thanh “đen”, đài “Gươm Thiêng Ái Quốc” và đài “Cờ Đỏ”. Hai đài phát thanh “bí mật” này phát ra những tin tức sai lạc, phóng đại, về những toán biệt kích hoạt động bí mật nơi miền bắc (dĩ nhiên thổi phồng). Những điện văn gửi qua lại, nhắn tin giữa những toán biệt kích đang “nằm vùng” nơi miền bắc, làm sao bắt tay, v.v...

        Nhiều toán biệt kích đang hoạt động nơi miền bắc được tăng cường thêm biệt kích quân bằng cách nhẩy dù xuống. Toán Toubillon nhận thêm “người” trong năm 1962, hai lần khác trong năm 1964, một lần trong các năm 1965, 1966 và 1967. Toán biệt kích Remus được tăng cường bốn lần, toán Easy được năm lần. Tất cả những biệt kích quân nhẩy dù xuống tăng cường đều bị giết hoặc bắt sống. Đơn vị SOG tin rằng các toán biệt kích đã bị bắt, rồi bị ép buộc gửi những tin tức, báo cáo sai lạc vào Saigon. Cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA đã “làm” chuyện này từ lâu, bắt sống lính Bắc Việt, bắt cóc thường dân sinh sống nơi miền bắc, và xử dụng những “cảm tình viên” làm gián điệp “hai mang”. Đến năm 1967, chỉ còn bốn toán biệt kích, Eagles, Hadley, Red Dragon, Romeo và một điệp viên đơn độc vẫn còn hoạt động nơi miền bắc.

        Đến cuối năm 1967, đơn vị SOG cho thêm hai toán biệt kích xâm nhập ngắn hạn, dò thám tìm mục tiêu vào trong các hoạt động bí mật của họ. Hành Quân 34 (Oplan 34) có thêm một “chương trình” (kế hoạch) mới, nhằm đánh lạc hướng cơ quan “phản gián” miền bắc. Chương trình này có mật danh “Forae”, đon vị SOG hy vọng sẽ gây chia rẽ trong nội bộ miền bắc.

        Đến năm 1968, Hành Quân 34 chia làm ba chương trình: 34A đặc trách các toán biệt kích hoạt động nơi miền bắc Việt Nam. 34B, bao gồm các toán biệt kích “Strata” xâm nhập, dò thám miền bắc trong thời gian ngắn. 34C, bao gồm các hoạt động nhằm đánh lạc hướng địch quân.

        Theo kế hoạch Hành Quân 34A, những toán biệt kích xâm nhập miền bắc, có nhiệm vụ xây dựng những nhóm kháng chiến, chống lại chế độ Hà Nội. Nhưng chưa bao giờ được Washington chấp thuận nên nhiệm vụ thay đổi, lấy tin tức tình báo, phá hoại và tâm lý chiến. Rồi toán biệt kích được lệnh không được tiếp xúc với dân chúng miền bắc... làm cho họ không thể nào hoàn tất nhiệm vụ. Tóm lại, chương trình 34A của đơn vị SOG không thành công.

        Chuyện đưa những toán biệt kích xâm nhập miền bắc, có thể nói hoàn toàn thất bại. Ngày 14 tháng Ba năm 1968, tư lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, tướng William Westmoreland, chấp thuận cho một chương trình mới nhằm đánh lạc hướng địch quân, có mật hiệu là Forae. Mục đích chính của chương trình Forae, làm cho chính quyền Hà Nội tin rằng, có nhiều toán biệt kích đang hoạt động nơi miền bắc Việt Nam... nhiều hơn họ được biết. Điều này làm lạc hướng quân đội Bắc Việt trong miền nam, và cho Hà Nội biết rằng, nền an ninh miền bắc không được yên ổn, không thể đưa thêm quân vào miền nam.

        Forae có ba chương trình căn bản, mang mật danh, Borden, Urgency và Oodles. Chương trình Borden tuyển mộ tù binh Bắc Việt làm việc cho đơn vị SOG. Họ đưa những tù binh này đi nơi khác, huấn luyện, rồi trả về miền bắc. Người Hoa Kỳ, cho họ biết những tin tức sai lạc, có rất nhiều toán biệt kích đang hoạt động hữu hiệu nơi miền bắc Việt Nam và con số lực lượng kháng chiến càng ngày càng gia tăng. Khi được đưa trở ra miền bắc, đơn vị SOG tin rằng, các tù binh này sẽ khai lại những điều mình biết cho sĩ quan an ninh Bắc Việt. Trong năm 1968, chương trình Borden tuyển mộ 98 “cựu tù binh” Bắc Việt và đưa ra miền bắc 44 người.

        Urgency có hai nhiệm vụ. Thứ nhất, “làm việc” với những tù binh (bị bắt), thường dân miền bắc (bị bắt cóc) cứng đầu, không chịu hợp tác. Những người này được đưa ra “Paradise Island” (Cù lao Chàm) để nhồi sọ, làm cho họ có cảm tưởng đang sống ở một nơi nào đó trên miền bắc Việt Nam, trong lòng một tổ chức kháng chiến, với đài phát thanh “đen”. Sau đó họ được huấn luyện nhẩy dù, và thả dù xuống gần một làng nơi miền bắc để họ có thể đi bộ đến làng, trình diện, đem theo những tin tức sai lạc.

        Nhiệm vụ thứ hai cũng nhằm đánh lạc hướng chính quyền miền bắc. Lần này họ xử dụng những người chịu hợp tác, cũng đưa ra “Paradise Island” tuyên truyền, trao cho những tin tức sai lạc rồi trả về miền bắc.

        Chương trình đánh lạc hướng địch quân qua phương tiện truyền thông, máy phát thanh (radio) là Oodles. Chương trình làm như có một hệ thống gián điệp, biệt kích nằm vùng trong một khu vực chọn lọc nơi miền bắc Việt Nam. Gửi đi những điện văn cho những toán biệt kích (không có thực) nằm vùng, bao gồm: thả dù tiếp tế, thả dù toán biệt kích mới, thả dù thêm biệt kích xuống tăng cường, chúc mừng ngày sinh nhật của toán viên nào đó... Thả những kiện hàng tiếp tế trống rỗng xuống gần chỗ đóng quân của một đơn vị lính Bắc Việt, làm cho địch có cảm tưởng, toán biệt kích... đã đem đi hết đồ tiếp tế.

        Ngoài ba chương trình chính yếu, Forae tạo ra thêm ba chương trình khác, Uranolite, Pollack, và Sanitaries. Uranilite thả xuống miền bắc những thùng đồ “quấy rối” gây khó khăn, mệt mỏi cho lực lượng an ninh miền bắc. Chẳng hạn như thùng đựng giấy nhưng bên ngoài có vẻ như thùng chứa máy móc điện tử để lấy tin tức, dụng cụ ám sát, chất nổ, v.v... và đã được toán biệt kích (ma) đến lấy đi. Chương trình Pollack gửi những tài liệu giả, để viên chức trong chính quyền miền bắc nghi kỵ lẫn nhau. Pollack chấm dứt hoạt động trong tháng Mười Một năm 1968. Sanitaries trợ lực cho đài phát thanh đen “Gươm Thiêng Ái Quốc”, làm như các hoạt động của các toán biệt kích nơi miền bắc rất thành công.

        Những chương trình “đánh lạc hướng” miền bắc, tỏ ra có hiệu qủa. Đài phát thanh, báo chí miền bắc lên tiếng lo ngại những chuyện điệp viên, biệt kích xâm nhập. Đến tháng Mười Một năm 1968, Washington ra lệnh cho đơn vị SOG chấm dứt tất cả các hoạt động này.

        Trong tháng Mười Hai năm 1964, đơn vị SOG được lệnh gia tăng những hoạt động đánh phá các mục tiêu dọc theo bờ biển miền bắc. Trong năm 1965, đơn vị SOG (Biệt Hải) đã tổ chức 170 chuyến hành quân vượt tuyến phát xuất từ Đà Nẵng. Những tầu chiến Swift, Nasty chạy tốc độ rất nhanh, tấn công các mục tiêu nơi bờ biển, bắt cóc ngư dân miền bắc đem đến “Paradise Island” để tuyên truyền. Sau đó họ được trao qùa tặng, truyền đơn, radio để nghe đài “Gươm Thiêng Ái Quốc” và đưa trở về làng cũ nơi bờ biển miền bắc. Trong năm 1965, SOG bắt cóc 126 thường dân miền bắc, thả xuống miền bắc 1000 radio, và 28.742 hộp qùa và cả triệu tờ truyền đơn. Năm sau, 1966 họ bắt cóc 353 thường dân ngoài bắc.



Dallas, Texas
vđh


HÀNH QUÂN 34A (OPLAN 34 ALPHA)

Hành quân 34A hay Kế Hoạch Hành Quân 34 Alpha (Operation Plan 34 Alpha), là một chương trình tối mật, cho những hoạt động bí mật chống lại chính quyền miền bắc Việt Nam. Những hoạt động bí mật bao gồm: cho điệp viên, thả những toán biệt kích xâm nhập vào miền bắc phá hoại, và xử dụng đơn vị Biệt Hải (Biệt Kích Hải Quân) đánh phá những mục tiêu dọc theo bờ biển miền bắc.
Chương tình này do cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA dựng lên từ năm 1961, đến năm 1964 chuyển giao cho bộ Tư Lệnh Quân Viện MACV trong kế hoạch “Trở Lại” (Switch Back). Quân đội Hoa Kỳ xây đựng một đơn vị lấy tên là Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (Study and Observation Group) SOG để nhận lãnh trách nhiệm này. SOG cũng là một “danh hiệu” để che dấu những hoạt động trong “Chiến Tranh Ngoại Lệ”, nhận lệnh trực tiếp từ bộ Quốc Phòng / Tổng Tham Mưu Quân đội Hoa Kỳ. Đại tướng William Westmoreland, tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam không có quyền ra lệnh cho những cuộc hành quân ngoài phạm vi miền nam Việt Nam. Ông ta được nghe thuyết trình, báo cáo, v.v... nhưng tất cả mọi hoạt động ngoại biên đều theo lệnh của bộ Quốc Phòng và của Tổng Thống Hoa Kỳ.
Theo đúng kế hoạch nguyên thủy, hành quân 34A thả những toán biệt kích ra miền bắc, xây dựng hệ thống kháng chiến chống lại chính quyền cộng sản và thiết lập đài phát thanh “đen” Gươm Thiêng Ái Quốc phát tuyến ra miền bắc, trong chương trình tâm lý chiến, tuyên truyền chống lại giới lãnh đạo miền bắc.
Đó là những nhiệm vụ chính trong hành quân 34A cho đến cuối năm 1966. Sau đó, nhiệm vụ phá hoại, tâm lý chiến trở thành phụ, nhiệm vụ chính là dò thám, phá hoại, ngăn chặn hệ thống đường mòn HCM.
Vấn đề thả biệt kích ra miền bắc, nằm vùng dài hạn quá khó khăn, có thể xem như thất bại hoàn toàn. Hành quân 34A lại thay đổi kế hoạch, những toán biệt kích “STRATA” chỉ xâm nhập ngắn hạn một, hai tuần trong những khu vực giới hạn (gần vĩ tuyến 17). Ngoài ra đơn vị SOG tổ chức chương trình FORAE, gửi những điện văn giả cho những toán “biệt kích ma” đang nằm vùng nơi miền bắc để đánh lừa, làm rối loạn chính quyền miền bắc. Đến cuối năm 1968, hành quân xâm nhập được chia làm ba bộ phận rõ ràng:
- 34A: Xâm nhập nằm vùng dài hạn.
- 34B: Xâm nhập ngắn hạn (Strata).
- 34C: Đánh lừa (Diversionary).
Chương trình Forae bao gồm các hoạt động:
- Borden: Xử dụng tù binh chính quy Bắc Việt bị quân đội Hoa Kỳ bắt (họ không xử dụng tù binh quân đội VNCH bắt), huấn luyện sơ sơ, cung cấp những tin tức sai lạc, rồi cho nhẩy dù trở ra miền bắc, với hy vọng họ sẽ bị lực lương an ninh, biên phòng miền bắc bắt. Những lời khai của các tù binh này làm miền bắc tin rằng có rất nhiều toán biệt kích đang hoạt động nơi miền bắc.
- Urgency: Ngược lại với hoạt động Borden, chọn những tù binh Bắc Việt “cứng đầu”, rồi trả tự do cho họ qua vùng phi quân sự. Khi trở về miến bắc, họ nói sự thật cũng chẳng ai tin tưởng.
- Oodles: Với những hoạt động thả biệt kích, gửi điệp viên ra miền bắc hoạt động... cứ làm như thật, nhưng tất cả đều giả tạo. Thí dụ như thả dù những tảng đá (đá lạnh) lớn xuống miền bắc. Khi xuống tới đất, nước đá tan hết, nhưng những cánh dù vẫn còn đó, như có toán biệt kích vừa mới xâm nhập.
Sau nhiều chuyến thả biệt kích xâm nhập miền bắc Việt Nam không thành công, tất cả các biệt kích quân Việt Nam trong các toán biệt kích đều bị giết hoặc bị bắt, giam cầm ngoài miền bắc. Đơn vị SOG chuyển hướng hoạt động, cho những toán biệt kích hải quân (Biệt Hải) đánh phá một số mục tiêu dọc theo bờ biển miền bắc Việt Nam.




TOÁN BIỆT KÍCH, ĐƠN VỊ HATCHET FORCE, ĐƠN VỊ SLAM
Nói về Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ trên chiến trường Việt Nam, chúng ta hình dung ra những toán A LLĐB, trấn đóng một tiền đồn hẻo lánh, huấn luyện, chiến đấu với sắc dân thiểu số người Mèo, người Thượng. Nói chung, LLĐB/HK có nhiệm vụ yểm trợ cho những hoạt động du kích chiến đằng sau hậu phương địch.
Khi trận chiến lan rộng, Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (SOG) là đơn vị đặc trách những hoạt động trong lòng địch. Hành Quân 35 (Oplan 35) được trao cho trách nhiệm tổ chức những chuyến hành quân xâm nhập “vượt biên” qua Lào và Cambodia. Các toán biệt kích trong hành quân 35 được đưa lên các căn cứ hành quân tiền phương (FOB), FOB-1 Phú Bài, FOB-2 Kontum, FOB-3 Khe Sanh, FOB-4 Đà Nẵng, FOB-5 Ban Mê Thuột và FOB-6 trại Hồ Ngọc Tảo, trước khi được trực thăng đưa đi xâm nhập.
Thường những toán biệt kích trong hành quân 35 có hai hoặc ba quân nhân LLĐB/HK, và chín biệt kích quân người Thượng. Ngoài ra còn có những tiểu đoàn “xung kích” SLAM (Search, Locate, Annihilate, Monitor) gồm bốn đại đội. Đơn vị cấp lớn này cũng hành quân ngoại biên, và phát xuất từ các căn cứ hành quân tiền phương như các toán biệt kích.
Những toán biệt kích có nhiệm vụ: dò thám đường mòn, khu vực, đặt mìn phá hoại, phục kích, bắt cóc tù binh, thẩm định kết qủa trận đánh bom, điều chỉnh phi cơ pháo binh bắn phá căn cứ, nơi đóng quân của địch, cứu tù binh bị địch giam cầm. Nhiệm vụ cho đơn vị SLAM thường là tấn công, phá hủy binh trạm, căn cứ, kho hàng của địch.
Trong tháng Mười Một năm 1967, hành quân 35 được tổ chức lại với ba bộ chỉ huy: Bắc (Command and Control North, CCN) ở Đà Nẵng, Trung (Central, CCC) ở Kontum, và Nam (South, CCS) ở Ban Mê Thuột. Khu vực hành quân (ngoại biên) được chia ra: Daniel Boone chạy từ ngả ba biên giới (Việt, Miên, Lào, gần trại LLĐB Ben Het) xuống đến hết miền nam. Prairie Fire từ vùng tam biên trên đất lào, lên đến biên giới với miền bắc Việt Nam. Nickel Steel là khu vực phiá tây vùng phi quân sự. Bộ chỉ huy Nam (CCS) cho những toán biệt kích xâm nhập vùng hành quân Prairie Fire (Lào) và khu vực Alpha (bắc) vùng hành quân Daniel Boone Miên). Bộ chỉ huy Bắc (CCN) lo vùng hành quân Prairie Fire (Lào), và Nickel Steel. Bộ chỉ huy Trung (CCC) chịu trách nhiệm vùng hành quân Prairie Fire (Lào).
Hành quân Prairie Fire là hậu thân của hành quân Shining Brass, và sau năm 1971 đổi tên Việt Nam là Phù Dung. Hành quân Daniel Boone đổi tên thành Salem House và sau đó thành Thốt Nốt. Nickel Steel trước đó có tên là Double Cross.
Từ tháng Chín năm 1966, cho đến tháng Tư năm 1971, đơn vị SOG tổ chức hơn 1500 chuyến hành quân xâm nhập qua Lào và Miên. Thâu thập những tin tức chiến lược về quân đội Bắc Việt. (G.B. Crouse)

Dallas, TX.
vđh
NAKHON PHANOM (1962-1975)
LTC Bill Shelton, (USA, Ret.)

Những toán biệt kích đơn vị SOG thường được trao phó cho các chuyến hành quân xâm nhập “vượt biên”, phát xuất từ các căn cứ hành quân tiền phương trên phần đất nam Việt Nam và Thái Lan. SOG là chữ viết tắt của Studies and Observations Group (Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát), một đơn vị tối mật trong cơ quan MACV (Bộ Tư Lệnh Quân Viện Hoa Kỳ Tại Việt Nam).
Đơn vị SOG có bộ chỉ huy trong Saigon, và các bộ chỉ huy trực thuộc ở Đà Nẵng (bộ chỉ huy Bắc – CCN), Kontum (bộ chỉ huy Trung – CCC), và Ban Mê Thuột (bộ chỉ huy nam – CCS). Mỗi bộ chỉ huy có những căn cứ hành quân tiền phương (FOB), và những toán “chuyên viên” đưa biệt kích vào vùng hành quân (xâm nhập). Toán “Xâm Nhập Lưu Động 3” (Mobile Launch Team 3) là “cửa hậu” của đơn vị SOG, đưa toán biệt kích xâm nhập, trong trường hợp thời tiết xấu trong miền nam, gây trở ngại cho việc đưa toán biệt kích xâm nhập hoặc triệt xuất (thường đưa qua Thái Lan rồi xâm nhập ngược trở lại Việt Nam, Lào, Miên).
Trong giai đoạn này, rất ít phi công lái trực thăng của Lục Quân được cấp “chứng chỉ đặc biệt”. Chỉ có phi đoàn trực thăng võ trang của TQLC/HK HML-367 (Scarface hoặc Eagle Claw) trong phi trường Phú Bài mới đủ khả năng, thường làm việc với căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB-1, Phú Bài), bay hộ tống trực thăng H-34 thả biệt kích, do phi công Việt Nam thuộc phi đoàn 219 “King Bee” đảm trách. Các phi công Việt Nam rất can đảm, thường được xử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Họ cũng là huyền thoại trong đơn vị SOG.
Nhiệm vụ cho các toán biệt kích SOG bao gồm: dò thám đường mòn, sông rạch, bắt tù binh, đặt máy nghe lén điện thoại, đặt máy dò điện tử, gài mìn, và cấp cứu phi công bị bắn rơi, hoặc các toán biệt kích SOG lâm nguy. Có nhiều đơn vị khác làm việc cho SOG, như Market Time bao gồm cả Hải, Không Quân. Và những ban hành quân riêng biệt như OP-34, OP-35. Đơn vị Hải Quân tổ chức những trận đột kích, bắn phá dọc theo bờ biển miền bắc Việt Nam. Các bộ chỉ huy, căn cứ hành quân thường đưa những toán biệt kích 34 (OP-34) xâm nhập ngoài miền bắc Việt Nam. Còn nhiều hoạt động bí mật khác, nhưng vì lý do an ninh, ban này không biết việc làm của ban kia.
Các cuộc hành quân được soạn thảo trong bộ chỉ huy đơn vị SOG, gửi đến các bộ chỉ huy trực thuộc Bắc, Trung, Nam để thi hành. Khi nhận được, các bộ chỉ huy vùng sẽ soạn thảo lệnh hành quân và ra lệnh cho các toán biệt kích xâm nhập. Mỗi toán biệt kích SOG thường có 3 quân nhân LLĐB/HK, và lên đến 10 biệt kích quân người Thượng. Người trưởng toán biệt kích có danh hiệu 1-0 (one-zero), toán phó 1-1 (one-one), nhân viên truyền tin 1-2 (one-two), tất cả đều thuộc LLĐB/HK. Người trưởng toán có thể thay đổi cơ cấu tổ chức của toán biệt kích. Quân nhân LLĐB/HK trong toán có nhiệm vụ soạn thảo kế hoạch hành quân, huấn luyện, trang bị cho toán biệt kích. Tùy theo nhiệm vụ cho mỗi chuyến hành quân, toán biệt kích có thể yêu cầu (yểm trợ, trang bị) tất cả những phương tiện có sẵn của đơn vị SOG.
Thí dụ, trên căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB-1, Phú Bài), mỗi ngày đều có 2 phi cơ quan sát FAC “Covey” thuộc phi đội 20 TASS (từ Đà Nẵng biệt phái hành quân cho đơn vị SOG), 2 trực thăng võ trang UH-1 thuộc phi đoàn HML 367 của TQLC/HK đóng trong phi trường Phú Bài, 3 trực thăng H-34 King Bee, phi đoàn 219 Việt Nam, các trực thăng thả biệt kích “Slick” từ phi đoàn Firebirds, sư đoàn 101 Nhẩy Dù Hoa Kỳ biệt phái hành quân, và các đơn vị Lục Quân Hoa Kỳ khác. Trường hợp phải di chuyển những đơn vị cấp lớn (trung, đại đội) Hatchet Force, đã có trực thăng CH-47 Chinook thuộc Lục Quân, CH-46 Sea Knight của TQLC/HK tăng cường. Trong căn cứ không quân Nathon Phanom bên Thái Lan, Không Lực 7 Hoa Kỳ (7 Airforce) dành sẵn đơn vị 56 SOW yểm trợ đặc biệt cho đơn vị SOG, gồm có: 2 phi cơ quan sát FAC “Nail”, 3 trực thăng cấp cứu CH-53 thuộc phi đoàn SOS Knives và 4 khu trục cơ A1 thuộc phi đoàn 56 không quân chiến thuật.
Trước khi toán biệt kích xâm nhập, người trưởng toán (1-0) thường đi bay thám thính khu vực hành quân trước để chụp ảnh những điểm quan trọng, chọn bãi đáp xâm nhập, triệt xuất, v.v... Một khung vuông 6x6km chung quanh mục tiêu được đánh dấu là vùng không được oanh kích hoặc tác xạ pháo binh trước khi toán biệt kích xâm nhập, để tránh trường hợp bắn lầm. Khi quay trở về toán biệt kích cùng phi công FAC được thuyết trình sơ qua mục tiêu và nhiệm vụ.
Ngày toán biệt kích lên đường xâm nhập, tất cả mọi người liên quan, CHT căn cứ hành quân tiền phương, sĩ quan hành quân SOG, tất cả các phi công FAC, trực thăng võ trang, thả toán biệt kích đều tham dự buổi thuyết trình, xem không ảnh chi tiết lần chót. Sau đó phi công FAC đem theo một quân nhân SOG, có nhiều kinh nghiệm (ngồi ghế sau) cất cánh trước lên bao vùng. Thường các phi công bay vòng để địch quân không đoán ra vị trí thả toán biệt kích. Sau khi thám sát khu vực, không có dấu hiệu khả nghi (hoạt động của địch) và bãi đáp yên tĩnh, phi công FAC sẽ liên lạc về căn cứ hành quân tiền phương, để hợp đoàn trực thăng đưa toán biệt kích vào bãi đáp cho chuyến xâm nhập.
Từ Phú Bài, toán biệt kích lên trực thăng cùng với các phi cơ trực thăng võ trang bay theo bảo vệ, bay vào bãi đáp đã chọn trước trong chuyến bay dò thám. Bình thường các trực thăng sẽ bắn hỏa tiễn, dọn dẹp xung quanh bãi đáp, để giết hoặc đuổi những toán canh gác bãi đáp của địch ra khỏi khu vực, trước khi trực thăng thả toán biệt kích bay vào. Sau khi toán biệt kích ra khỏi bãi đáp, “biến” mất vào trong rừng, phi cơ FAC vẫn còn bao vùng ở một chỗ khác cách xa vài cây số (an toàn cho toán biệt kích) đợi cho toán biệt kích báo tín hiệu “OK”, lúc đó phi cơ FAC mới cho lệnh hợp đoàn trực thăng bay trở về căn cứ.
Đến buổi chiều, khoảng từ 3 đến 5 giờ, FAC sẽ bay trở lại, liên lạc xem toán biệt kích OK, hay có điều gì để báo cáo về bộc chỉ huy. Sau đó FAC sẽ liên lạc với tất cả mọi nơi, trung tâm điều không, các phi cơ bao vùng của Đệ Thất Không Lực Hoa Kỳ, để chắc chắn họ biết khu vực có toán biệt kích, không được oanh kích.




Đến cuối năm 1969, đầu năm 1970, không quân Hoa Kỳ thay thế loại phi cơ thám thính khác, OV-10, bay an toàn hơn, mang theo nhiều hỏa tiễn khói trắng (để bắn chỉ điểm cho khu trục hoặc phản lực oanh kích), và trang bị máy móc truyền tin mạnh hơn.
Khi đã xâm nhập vào mục tiêu, toán biệt kích phải lo nhiệm vụ của mình, phi cơ FAC “Nail” (loại cũ có danh hiệu “Covey”) sẽ lên bao vùng hàng ngày, nhưng đến tối toán biệt kích chỉ liên lạc với những loại phi cơ đặc biệt danh hiệu “Bat Cat”, bao vùng 24/24 và cho tất cả các đơn vị Bộ Binh Hoa Kỳ xử dụng để liên lạc. Bình thường các toán biệt kích SOG xâm nhập sâu vào đất Lào hoặc Miên, ra khỏi tầm tác xạ yểm trợ của Pháo Binh, do đó “Không Yểm” là phương tiện “sống chết” của toán biệt kích, sống sót trở về.
Sau khi toán biệt kích đã hoàn tất nhiệm vụ hay gặp trường hợp khẩn cấp (chạm địch...) phải được triệt xuất. Hầu hết các trường hợp triệt xuất một toán biệt kích đều... khẩn cấp. Sau khi đem được toán biệt kích về an toàn, các quân nhân biệt kích Hoa Kỳ phải thuyết trình sơ qua về chuyến “công tác”, sau đó họ được đưa vào câu lạc bộ “Heavy Hook” đã một chầu và để cho họ có dịp tâm sự thêm với phi hành đoàn đi cứu họ. Sáng hộm sau một phi cơ C-130 mầu đen, không phù hiệu “Blackbird”, sẽ đưa cả toán biệt kích về căn cứ của họ, và sẽ phải thuyết trình chi tiết về chuyến hành quân xâm nhập.
Nhiệm vụ các phi công FAC thuộc phi đoàn 20, 23 TASS rất quan trọng. Họ phải can đảm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tình đồng đội, nhờ vậy những toán biệt kích SOG mới có nhiều cơ hội sống sót trở về.

Dallas, TX.
vđh



BIỆT KÍCH QUÂN MẤT TÍCH









        Trong thập niên 1960, Hoa Kỳ đưa hàng trăm biệt kích quân Việt Nam xâm nhập vào miền bắc Việt Nam. Sau đó người Hoa Kỳ báo cáo là họ đã chết, nhưng nhiều biệt kích quân vẫn cố gắng sống sót qua các trại tù nơi miền bắc, để rồi chôn vùi câu chuyện trong “tấm vải liệm (xác chết)” nhiều năm. Có ít nhất 200 biệt kích quân Việt Nam đã sống sót qua thời gian tù đầy, tra khảo, đầy đọa và đã đến định cư tại Hoa kỳ. Họ tin rằng, vẫn còn 88 biệt kích quân, đồng đội của họ bị giam giữ.
        Các hoạt động bí mật, không thành công nơi miền bắc Việt Nam được biết có mật danh Oplan 34A (Kế Hoạch Hành Quân 34 Alpha). Do cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA khởi động từ năm 1961, đến năm 1964 bàn giao cho bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Hoa Kỳ, qua trung gian MACV. Theo những tài liệu, tờ báo New York Times sưu tầm được, Hoa Kỳ huấn luyện biệt kích quân Việt Nam, đưa họ xâm nhập vào miền bắc Việt Nam, rồi xoá tên từng người một trong sổ lương năm 1965. Nhiều biệt kích quân theo đạo Thiên Chúa Giáo, đã chạy trốn cộng sản trong những năm 1950, và biết tiếng tiếng điạ phương.
        Vài tài liệu nói về những cái chết của biệt kích quân trong toán Scorpion. Tuy nhiên đài phát thanh Hà Nội thông báo, và cơ quan CIA thâu lại, cho rằng toán biệt kích bị bắt sống trong tháng Sáu năm 1964. Nhiều biệt kích quân bị đầy đọa, giam cầm trong những điều kiện không thể diễn tả bằng lời nói được. Dầu sao chăng nữa, cơ quan CIA tuyên bố họ đã chết và trả cho gia đình họ một số tiền khoảng 4000 đô la, cho sự hy sinh của họ.

CÂU CHUYỆN CỦA BKQ Mộc A Tài (toán Dragon) bị giam cầm từ 1962-1982
        Nhóm “Biệt Kích Quân Bị Mất Tích” chúng tôi dò thám cho cơ quan CIA từ năm 1960, và bắt đầu nhẩy dù bí mật xuống miền bắc Việt Nam.
        Đến năm 1964, bộ Quốc Phòng / TTM (Pentagon) Hoa Kỳ qủa quyết rằng, các biệt kích quân đã bị chết trong cảnh tù đầy, hoặc phải làm việc cho địch quân, và tiếp tục gửi ra ngoài bắc những toán biệt kích mới.
        Đến năm 1968, đã có khoảng 500 biệt kích quân bị bắt, giam cầm nơi miền bắc Việt Nam. Và gia đình của các biệt kích quân được thông báo là họ đã chết. Hai mươi năm sau, hơn 500 biệt kích quân được trả tự do, từ những trại tù ngoài bắc. Nhiều biệt kích quân đã sống sót qua thời gian tù đầy, có người bị giam cầm gần 30 năm.
        Ngày 27 tháng Giêng năm 1973, hiệp định Paris được ký kết, có hiệu lực cho tất cả những ai liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Các tù binh chiến tranh sẽ được trả tự do, và các biệt kích quân mong chờ ngày được trở về.

TOÁN BIỆT KÍCH ATLAS, (3/1961)
        Toán biệt kích Atlas nhẩy dù ra ngoài bắc trong tháng Ba năm 1961, gồm có bốn người: trưởng toán Nguyễn Hữu Quang, ba toán viên, Nguyễn Hữu Hồng, Từ Đức Khải (chết trong lúc chiến đấu), và Trần Việt Nghiã.

TOÁN BIỆT KÍCH CASTER, SƠN LA (27/5/1961)
        Toán biệt kích Caster dưới quyền chỉ huy của Hà Văn Chấp, cùng với các toán viên: Đinh Văn, Quách Thưởng, Phạm Công Thương được đưa vào Saigon, sau khi họ đã tình nguyện thi hành nhiệm vụ bí mật nơi miền bắc. Khi nhân viên phòng 45 cho họ biết sẽ được thả dù xuống khu vực tỉnh Sơn La, họ cũng không thắc mắc về nhiệm vụ của toán biệt kích. Trong tháng Năm, toán biệt kích bốn người được đặt tên là Caster. Sau đó toán Caster nhẩy dù xuống tỉnh Sơn La trong khi các đơn vị võ trang của miền bắc đang chờ đợi họ.
        Ít lâu sau khi bị bắt, nhân viên truyền tin bị ép buộc phải làm việc cho họ, Nha Phản Gián miền bắc. Anh ta báo cáo về Saigon rằng, toán biệt kích Caster đã đặt chân xuống miền bắc an toàn. Toán Caster vẫn tiếp tục hoạt động độc lập (thực ra đã bị bắt) cho đến tháng Bẩy năm 1963, khi cơ quan Tình Báo CIA cho rằng đã mất liên lạc với toán biệt kích, lần cuối cùng toán Caster liên lạc được, ở trên đất Lào.

TOÁN BIỆT KÍCH DRAGON, MÓNG CÁY (10/3/1962)
        Toán biệt kích Dragon hoạt động trong vùng Móng Cáy từ ngày 10 tháng Ba năm 1962 cho đến tháng Mười Một năm 1968.
        Các biệt kích quân trong toán Dragon sau khi đã hoàn tất khóa nhẩy dù, xử dụng vũ khí, mưu sinh và tình báo. Họ được huấn luyện đặc biệt thêm khoảng ba tháng trước khi được đưa đi xâm nhập vào miền bắc Việt Nam. Khoá huấn luyện này cho họ biết những tin tức mới nhất về chế độ cầm quyền miền bắc khi họ vào tiếp thu, kể từ năm 1954. Những tin tức mới này sẽ cho các biệt kích quân thêm khả năng mưu sinh nơi hậu phương địch. Toán biệt kích Dragon được đưa đi thăm trại tạm cư Sơn Trà, ngoại ô thành phố Đà Nẵng. Trại tạm cư này nhận những người tỵ nạn vượt tuyến từ ngoài bắc vào miền nam. Người mới đến phải khai báo và qua thủ tục hành chánh trước khi được đưa vào trong miền nam định cư.
        Buổi thuyết trình do một sĩ quan Việt Nam đảm trách được một hồi chánh viên tháp tùng. Đề tài bao gồm: hệ thống hành chánh chế độ miền bắc, từ trung ương xuống đến làng xã, hệ thống an ninh, các đơn vị an ninh, quốc phòng, tự vệ nơi miền bắc. Thuyết trình viên cũng nói về đời sống dân chúng ngoài bắc, sự di chuyển, chế độ kiểm soát, hộ khẩu, v.v...
        Tất cả các biệt kích quân trong toán Dragon đều có gốc rễ nơi miền bắc. Họ nói rành ngôn ngữ, cách phát âm, biết rõ phong tục, tập quán điạ phương. Trong khóa huấn luyện, toán viên mới nhận ra mình cần phải học hỏi nhiều danh từ mới, từ một chế độ mới nơi miền bắc. Những danh từ trước năm 1954, nay đã ít được xử dụng.
        Toán biệt kích Dragon gồm có: Mộc A Tài trưởng toán, và các toán viên Vòng A Ung, Trênh A Sam, Giáp Tú Cam, Vòng Hàng Quay, và Trần Văn Mẫn. Cả sáu người đều thuộc sắc tộc thiểu số Nùng. Họ phải ra đi xâm nhập ba chuyến trên các thuyền buồm (được đóng ở Đà Nẵng theo khuôn mẫu các tầu đánh cá ngoài bắc) Nautilis N1, N2, và N7, với nhiệm vụ nằm vùng lâu dài trong vùng Móng Cáy, sát biên giới với Trung Hoa. 
        Toán Dragon được một người Hoa Kỳ tên là “Robert” (dấu tên thật, nhân viên CIA) thuyết trình ở Saigon về nhiệm vụ tổng quát của toán biệt kích, phần chi tiết sẽ do các sĩ quan khác trong đơn vị. Toán Dragon sẽ tấn công một đài radar ngoài khơi bờ biển miền bắc, bắt liên lạc với những điệp viên gốc người Nùng do đại tá Vòng A Sáng “gài” lại, trước khi đưa các đơn vị người Nùng di cư vào nam. Người thuyết trình cho biết, đại tá Vòng A Sáng đã ra lệnh cho một số thuộc cấp “nằm lại”, nhưng không còn liên lạc được nữa, sau năm 1954.
        Trong khi toán Dragon chuẩn bị lên đường (xâm nhập bằng đường biển), một toán biệt kích nhỏ được thả dù xuống tăng cường cho toán biệt kích Europa. Chiếc phi cơ C-123, do phi công người Đài Loan (CIA trả lương) lái đâm vào một ngọn núi trên đất Lào trước khi đến điạ điểm thả dù, tất cả mọi người trên chiếc phi cơ đều tử nạn. Một nhóm nhân viên “bán quân sự” CIA đã đến quan sát chỗ phi cơ bị rơi xác nhận.
        Trong tháng Bẩy năm 1962, bộ trưởng Quốc Phòng McNamara triệu tập một phiên họp gồm bộ Quốc Phòng, Ngoại Giao và cơ quan Tình Báo CIA, để thảo luận về việc bàn giao chương trình 34A cho quân đội, trong kế hoạch “Trở Lại” (Switch Back). Đại tá George C. Morton, trưởng ban Chiến Tranh Ngoại Lệ, phòng 3 Hành Quân trong bộ tư lệnh Quân Viện MACV cho rằng cần có sự tham dự của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ. Đại tá Morton đã có thành tích “nằm vùng” ở Hy Lạp (Greece) trong đầu thập niên 1950, và được xem như chuyên gia về Chiến Tranh Ngoại Lệ.
        Đô đốc Felt, đốc thúc việc trả đũa, những vụ VC phá hoại đường rầy xe lửa trong miền nam bằng cách phá hoại đường rầy xe lửa từ miền bắc lên đến Trung Hoa. Ông ta còn đưa ra ý kiến, xử dụng tầu ngầm đưa biệt kích xâm nhập miền bắc, mà ông ta cho rằng miền bắc không đủ khả năng để chống lại.
        Đến tháng Chín, ủy ban Đặc Biệt “5412” trong hội đồng An Ninh Quốc Gia tán đồng ý kiến đô đốc Felt đưa ra trước đây, đề nghị xử dụng những tốc đỉnh phóng thủy lôi và đơn vị Người Nhái Hải Quân trong cuộc chiến bí mật chống lại miền bắc Việt Nam.
        Điệp viên Ares được đưa đi xâm nhập miền bắc bằng thuyền đổ bộ trong tháng Hai năm 1961. Ông ta vào đến khu vực đông bắc tỉnh Quảng Ninh một cách êm xuôi, và ít lâu sau báo cáo về Saigon. Đó là đường lối xử dụng nhân viên “bán quân sự” (điệp viên) của trùm CIA tại Việt Nam lúc bấy giờ, William Colby.
        Trong tháng Sáu năm 1962, toán biệt kích Eros gồm có năm người nhẩy dù xuống tỉnh Thanh Hóa. Chỉ ít lâu sau, toán biệt kích bị một đơn vị biên phòng bắt sống, hình như địch quân đã biết trước, có toán biệt kích hoạt động trong khu vực. Và nhân viên truyền tin cũng bị ép buộc làm việc cho họ, gửi những báo cáo sai lạc về Saigon. Trước đó, trong tháng Tư, toán biệt kích Remus gồm có sáu người nhẩy dù xuống trên đất Lào để được an toàn, rồi xâm nhập khu vực Điện Biên Phủ bằng đường bộ. Toán biệt kích Remus vẫn... hoạt động cho đến năm 1968, đài phát thanh Hà Nội loan tin bắt được một toán biệt kích trong vùng hoạt động của toán Remus.      
        Trong tháng Bẩy năm 1962, điệp viên Nguyễn Châu Thanh ra đi bằng thuyền, xâm nhập vào vùng biển Hà Tĩnh. Đúng ra chiếc thuyền Nautilus N3 có nhiệm vụ đưa anh ta đi, nhưng thay đổi vào giờ phút chót, một chiếc thuyền khác phải đưa đi. Sau khi xâm nhập được ít lâu, người điệp viên cũng bị phát giác và bị bắt.

TOÁN BIỆT KÍCH EROS, THANH HÓA (6/1962)
        Toán biệt kích Eros gồm có năm người: trưởng toán Hà Trọng Thương (chết trong tù), Hà Công Quân (nhân viên truyền tin), Phạm Công Tiêu, Phạm Công Thương (truyền tin), và toán phó Phong Công Dung. Toán Eros nhẩy dù xuống Thanh Hóa trong tháng Sáu năm 1962, trốn tránh được ít lâu trước khi bị bắt.
       
TOÁN BIỆT KÍCH SWAN, CAO BẰNG (4/9/1963)
        Toán biệt kích Swan nhẩy dù xuống tỉnh Cao Bằng ngày 4 tháng Chín, gồm có: trưởng toán Nông Công Định (bị xử tử), Lý A Nhì (tử trận lúc chiến đấu), Đàm Văn Ngọ (nhân viên truyền tin), Đàm Văn Tôn (toán viên), Mã Văn Ban (toán viên) và toán phó Nông Văn Hinh.
        Toán biệt kích Bull nhẩy dù xuống vùng Hà Tĩnh ngày 7 tháng Mười. Toán Ruby bị lộ, bị truy lùng ngay khi vừa nhẩy dù xuống, cũng trong vùng Hà Tĩnh vào đầu tháng Mười Hai (5/12). Các biệt kích trong toán Ruby, cố lẩn tránh và di chuyển về hướng nam (miền nam), rồi bị bắt tại một nơi gần Quảng Bình. Gần như lực lượng an ninh miền bắt bắt được cả toán biệt kích Ruby, họ đọc bản tin bắt được toán biệt kích Ruby trên đài phát thanh Hà Nội và cơ quan Tình Báo CIA thâu được.
        Kế hoạch “Trở Lại” (Switch Back) bắt đầu từ ngày 22 tháng Giêng năm 1963. Cơ quan CIA bàn giao Hành Quân 34A cho quân đội, một trung tâm huấn luyện biệt kích ở Long Thành được xây dựng trong tháng Tư năm 1963. CIA bàn giao lại “tất cả”, kể cả các toán biệt kích đang “nằm vùng” hoặc đang bị cầm tù ngoài miền bắc. Huấn luyện viên về chất nổ Nguyễn Hưng kể lại “Larry Jackson là nhân viên CIA mà tôi liên lạc trong việc huấn luyện phá hoại bằng chất nổ, và ông ta vẫn làm việc với tôi cho đến khi Quân Đội đến thay thế trong mùa Xuân năm 1964. Bắt đầu từ mùa Hè năm 1963, Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đã bắt đầu đến Long Thành.”
        Toán biệt kích Horse đã được tuyển mộ từ năm 1962, bây giờ chia xẻ kinh nghiệm với những chiến hữu mới. Trong mùa Thu năm 1965, chín biệt kích trong toán Dog và ba trong toán Easy-B nhẩy dù xuống tăng cường cho toán Easy (Toán Easy gồm 8 biệt kích đã nhẩy dù xuống miền bắc ngày 9/8/1963). Đến ngày 7 tháng Mười Một năm 1965, tám biệt kích trong toán Verse được thả xuống Sơn La, tăng cường cho toán Tourbillon. Tất cả các toán biệt kích đều được lính Bắc Việt tận tình “đón tiếp”.

TOÁN BIỆT KÍCH ROMERO, QUẢNG BÌNH (19/11/1965)
        Cũng trong tháng đó (11/1965), toán biệt kích Romero gồm mười một người đã sẵn sàng lên đường. Cũng như các toán biệt kích trước khi lên đường, được đưa vào khu “cấm”. Nhiệm vụ cho toán Romero là nhẩy dù xuống thay thế cho một toán biệt kích khác, điều này làm cho biệt kích quân trong toán tin rằng, các toán biệt kích trước đây đã xâm nhập sâu vào miền bắc. Mặc dầu trong thời gian huấn luyện, họ chưa thấy ai ra đi... rồi trở lại, tuy nhiên sĩ quan huấn luyện vẫn trả lời rằng, các toán biệt kích vẫn hoạt động tốt đẹp nơi miền bắc, để cho mọi người an tâm. Riêng toán Romero được dặn dò, cứ ra ngoài bắc trước, rồi sẽ có lệnh sau.
        Toán biệt kích Romero gồm có: Trần Như Dần, Vũ Khắc Hải, Nguyễn Văn Hạnh, Hà Văn Hoan, Trần Văn Mẫn, Hoàng Hương, Đinh Hồng Nhi, Nguyễn Văn Tân, Lê Văn Thanh, Trần Thế Thức, Đỗ Ngữ Uông. Sáng ngày 19 tháng Mười Một, toán được một phi cơ Hoa Kỳ cất cánh từ Long Thành chở ra căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh. Và chiều hôm đó, toán biệt kích lên hai trực thăng, trên chiếc thứ ba có người Hoa Kỳ và sĩ quan hành quân Việt Nam bay theo.
        Đoàn trực thăng bay với cao độ thấp vòng qua nước Lào trước khi xâm nhập vào miền bắc Việt Nam. Khoảng bốn, năm giờ chiều, hai chiếc trực thăng thả toán biệt kích nơi một khu vực gần biên giới Lào-Việt và đường mòn HCM, trong quận Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Toán biệt kích nhanh chóng đem đồ tiếp liệu xuống và di chuyển xa ra khỏi bãi đáp trực thăng.
        Toán Romero báo cáo về căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh, đã xuống bãi đáp an toàn và bắt đầu di chuyển đến điểm tập họp đã dự trù trước. Khi toán biệt kích di chuyển, họ mới biết rằng, đoạn đường rừng mười cây số sẽ phải mất năm ngày, vì điạ thế hoàn toàn khác hẳn với trên bản đồ (khu vực bị bom tàn phá).
        Rồi toán biệt kích khám phá ra thêm, trực thăng đã đưa họ đến không đúng bãi đáp trực thăng, như đã dự trù trong lệnh hành quân. Toán Romero rơi vào tình trạng rối trí, không xác định được điểm đứng, vị trí của toán biệt kích, cũng như bãi đáp trực thăng mà họ xuống.
        Toán biệt kích Romero báo cáo về và được xác nhận đúng, họ đã bị đưa đến sai bãi đáp, và được lệnh, đợi quyết định của cấp chỉ huy ở trên cao. Toán biệt kích cũng không ngờ, thời gian nằm chờ lệnh trong một khu rừng, điạ thế xa lạ, rất căng thẳng, kéo dài đến sáu tuần lễ (?), thực phẩm đem theo gần cạn. Rồi chuyện xui xẻo xẩy ra, bộ chỉ huy trong Saigon đã xác định được vị trí của toán biệt kích Romero và ra lệnh cho họ chuẩn bị bãi đáp trực thăng để tiếp tế.
        Toán biệt kích làm theo lời dặn, chặt cây, dọn dẹp làm bãi đáp, họ trải mấy tấm panô theo hình chữ “T” đánh dấu vị trí cho phi cơ thả đồ tiếp liệu (thả bằng phi cơ, đồ tiếp liệu chứa trong qủa bom Napalm giả). Nghe tiếng động cơ máy bay, toán biệt kích sững sờ nhìn đồ tiếp tế bay cách xa bãi đáp khoảng năm cây số... và với điạ thế trong khu vực họ phải đi mấy ngày đường.
        Trong khi nhìn những sự “ngu xuẫn” từ trên trời, các biệt kích quân nghe tiếng người cười nói, tiếng tát nước phát ra từ một con suối gần đó. Để an toàn khu vực toán biệt kích Romero đang trú ẩn, các biệt kích mò đến con suối, dò thám. Họ theo dõi năm người lính Bắc Việt, xếp gạch xây cái bếp con để nấu cơm, ăn uống rồi giăng võng như sắp sửa đi ngủ. Mấy người lính Bắc Việt rất tự nhiên, không dè đang bị lính biệt kích trang bị đến tận răng theo dõi.
        Toán biệt kích bàn với nhau, vẫn còn lâu mới đến thời gian lên máy truyền tin báo cáo, nên không thể yêu cầu oanh kích bằng phi cơ. Hiện tại đã mất đồ tiếp tế, nếu xin tiếp tế một chuyến khác, địch quân sẽ phát giác ra toán biệt kích. Cuối cùng các biệt kích quân quyết định, bất ngờ xông vào bắt sống năm tên lính Bắc Việt.
        Năm người lính Bắc Việt thuộc đơn vị biên phòng tỉnh Quảng Bình. Toán Romero được biết đơn vị biên phòng Bắc Việt đã báo động có toán biệt kích trong khu vực và đang đi tìm. Có lẽ do một người dân đi rừng trông thấy trực thăng chở toán biệt kích bay vào. Theo lời khai của “tù binh”, hệ thống biên phòng nơi miền bắc rất chặt chẽ, tất cả mọi người dân, mọi ngôi làng đều báo lên ban chỉ huy đơn vị biên phòng, mỗi khi trông thấy các loại tầu bay của Hoa Kỳ.
        Toán biệt kích Romero đã được huấn luyện ở Long Thành, phải giết địch quân ngay tức khắc, để bảo mật cho chuyến công tác và an toàn cho toán biệt kích. Nhưng hiện tại, toán Romero đã biết, địch đã phát giác có toán biệt kích xâm nhập và đang đi lùng bắt.
        Khi được huấn luyện là một chuyện, nhưng khi đối mặt với thực tế là chuyện khác... sau ba ngày nặng đầu suy nghĩ, người biệt kích trưởng toán Romero ra lệnh thả tự do năm người lính Bắc Việt, rồi toán biệt kích di chuyển ngay lập tức để trốn tránh. Chuyện này họ không báo cáo về bộ chỉ huy Nha Kỹ Thuật, đơn vị SOG trong Saigon.
        Sau một tuần lễ lẩn trốn, ngày 14 tháng Giêng năm 1966, toán biệt kích Romero bị bao vây bởi đơn vị biên phòng và tự vệ điạ phương. Năm người lính Bắc Việt đã chạy về đơn vị, báo cáo lên cấp chỉ huy của họ về toán biệt kích.
        Sau khi bị bắt, tất cả đều bị trói tay ra đằng sau bằng dây điện thoại. Hai biệt kích quân mang máy truyền tin được đưa đi riêng ra và bị ép buộc phải làm việc cho đơn vị phản gián, chống biệt kích, gián điệp miền bắc. Sau đó họ đưa toán biệt kích Romero đến nhà tù trong trị trấn Đồng Hới, thật ra là những túp lều tranh, vì cả thành phố đã bị không quân Hoa Kỳ oanh kích tan nát. Đó là “nhà” của toán biệt kích Romero trong sáu tuần lễ sắp đến.

TOÁN BIỆT KÍCH HECTOR
        Đại úy Nguyễn Hữu Luyện, một sĩ quan làm việc cho Nha Kỹ Thuật, có nhiều kinh nghiệm huấn luyện, có tinh thần trách nhiệm và chống cộng. Ông ta muốn chứng minh chương trình “nằm vùng” dài hạn có kết qủa. Để thực hiện điều đó, ông ta tuyển mộ, chọn lựa, lấy những thanh niên trẻ, tình nguyện và có trình độ học vấn lớp mười một, lập một toán lớn (đông người) có tên là Bắc Bình. Đại úy Luyện sẽ đích thân theo dõi việc huấn luyện cho toán biệt kích mới này, đưa họ xâm nhập vào miền bắc và đem họ trở về an toàn. Ông ta tiên đoán rằng, những toán viên sau này sẽ trở thành những cán bộ nòng cốt, huấn luyện các toán mới. Khi ông Luyện giải thích điều này cho toán biệt kích, một vấn đề gặp phải là khi đã xâm nhập vào miền bắc, toán biệt kích không thể biết rõ chính xác vị trí của mình để báo cáo.
        Toán Bắc Bình bắt đầu việc huấn luyện trong tháng Mười Một năm 1965. Đại úy Luyện đích thân chỉ huy việc huấn luyện, ông ta cố gắng huấn luyện một toán lớn để có thể chia ra làm bốn toán nhỏ. Đến tháng Sáu năm 1966, việc huấn luyện toán biệt kích Bắc Bình (tên Việt Nam) hoàn tất, và các biệt kích quân đã sẵn sàng lên đường.
        Toán Bắc Bình, khởi thủy có hơn bốn mươi người, sau khi huấn luyện xong, chỉ còn không tới ba mươi người nên chỉ có thể chia thành hai toán nhỏ. Toán Bắc Bình 1, bầu Bùi Quang Cát làm trưởng toán, đại úy Luyện tự nguyện đi theo toán biệt kích để cố vấn. Toán biệt kích được đưa vào khu cấm trong tháng Sáu và đổi tên là Hector-1.
        Ngày 22 tháng Sáu năm 1966, toán biệt kích Hector-1 được trực thăng đưa đi theo lộ trình cũ của mấy toán biệt kích ra đi trước đó. Đầu tiên họ được đưa qua Thái Lan, sau đó trực thăng sẽ đưa toán biệt kích băng qua đất Lào, xâm nhập vào phiá tây tỉnh Quảng Bình. Toán biệt kích vào khu vực hoạt động an toàn, họ lập căn cứ hành quân, và hoạt động được một tháng.
        Đại úy Luyện, cùng với trưởng toán biệt kích Hector-1, Bùi Quang Cát và hai toán viên, Đinh Văn Vương, Nguyễn Mạnh Hải đi đến một ngôi làng nhỏ nơi miền núi, để gặp những người dân làng. Nhiều toán viên cho rằng, điều đó nguy hiểm, nhưng ông Luyện trấn an họ, sẽ không sao, họ sẽ đi đến làng rồi trở về bình an, vô sự. Khi bốn quân nhân biệt kích đến làng, những người dân làng bảo họ ngồi chờ, nhưng đi báo lực lượng an ninh trong làng và kết qủa, cả bốn người đều bị bắt.
        Những biệt kích quân còn lại trong toán Hector-1 ở căn cứ chờ đợi. Đúng ra họ phải làm đúng theo thủ tục “những điều cần phải làm”. Đợi đại úy Luyện và ba người kia, nếu không quay trở lại trong vòng ba tiếng đồng hồ, họ phải di chuyển căn cứ hoạt động. Nhưng toán biệt kích Hector-1 đợi đến năm tiếng đồng hồ. Trong khi đó lực lượng an ninh miền bắc, ép buộc người trưởng toán biệt kích dẫn dắt nhân viên an ninh, biên phòng đến căn cứ của toán biệt kích Hector-1 bắt tất cả những biệt kích quân còn lại. Cũng như số phận những toán biệt kích trước đó, hai nhân viên truyền tin, bị đưa đi riêng, ép buộc phải làm việc cho Hà Nội.
        Ngày 13 tháng Chín năm 1966, phần còn lại của toán Bắc Bình, gọi là toán biệt kích Hector-2 được đưa vào khu cấm trong căn cứ Long Thành để nghe thuyết trình về nhiệm vụ do một thiếu tá Lục Quân Hoa Kỳ và đại úy Dũng làm thông ngôn đảm trách. Toán biệt kích Hector-2 có nhiệm vụ dò thám hệ thống đường mòn HCM. Chi tiết sẽ thuông báo sau, khi toán biệt kích đã đặt chân lên đất bắc. Nhiệm vụ cho toán Hector-2 dự trù sẽ kéo dài hai năm, và các biệt kích quân sẽ được thông báo nhiệm vụ mới hàng tháng tùy theo nhiệm vụ và tình hình.
        Đại úy Dũng nói thêm, toán Hector-2 còn có nhiệm vụ đi tìm toán Hector-1, nếu tìm được báo cáo về bộ chỉ huy. Sau khi Nha Kỹ Thuật mất liên lạc với toán biệt kích Hector-1, đích thân đại úy Dũng ngồi trên một máy bay thám thính L-19 đi tìm. Ông ta chụp mấy tấm ảnh vị trí mà đúng ra toán Hector-1 phải có mặt, nhưng không thấy dấu hiệu gì của toán biệt kích. Đại úy Dũng nhấn mạnh sợi dây liên hệ giữa hai toán biệt kích Hector 1 và 2, ông ta muốn toán Hector-2 có trách nhiệm tinh thần đối với Hector-1. Toán Hector-1 đi trước để lập căn cứ hoạt động cho cả hai toán Hector. Nhưng lúc đó, Hector-1 đang mong Hector-2 đến cứu họ.
        Đặng Đình Thúy (thiếu úy), cố vấn quân sự cho toán Hector-2 hối thúc cho toán biệt kích lên đường sớm. Các biệt kích quân khác cũng đồng ý, họ vẫn tin rằng, đại úy Luyện vẫn có đủ khả năng mưu sinh, thoát hiểm. Tất cả toán Hector-2 chấp nhận lời nhận định của đại úy Dũng, có lẽ Hector-1 đang thất lạc trên núi.
        Đại úy Dũng xem xét lại nhiệm vụ, vị trí trong toán biệt kích của từng cá nhân. Trưởng toán biệt kích Hector-2 là Mai Nhuệ Anh, toán phó là Vũ Văn Chi. Khi trực thăng chở toán biết kích đáp xuống miền bắc, người nhẩy ra đầu tiên là Hoàng Đình Kha, anh ta có nhiệm vụ quan sát khu vực xung quanh bãi đáp (an ninh). Các toán viên khác có nhiệm vụ khiêng những thùng lớn chứa đồ tiếp liệu, dụng cụ xuống.
        Những tấm không ảnh cho biết bãi đáp trực thăng xâm nhập là một chấm nhỏ, trong khu vực hoạt động rộng khoảng 5000 cây số vuông của toán biệt kích Hector-2. Khu vực này được chọn vì nằm gần đường mòn HCM và không gần những ngôi làng nhỏ... Hy vọng toán biệt kích sẽ được an toàn khi xâm nhập.
        Toán biệt kích được cho biết, loại trực thăng chở toán biệt kích xâm nhập là loại mới, bay nhanh, quân đội Hoa Kỳ mới đem qua vùng Đông Nam Á 40 chiếc để thả biệt kích. Bên trong trực thăng đủ rộng để chở dụng cụ, đồ tiếp liệu cho toán biệt kích, không lo chuyện thả dù thất lạc (có lẽ loại trực thăng CH-53. Người Hoa Kỳ không viện trợ cho QL/VNCH loại trực thăng này cũng như trực thăng võ trang Cobra). Tất cả mọi việc đều được xắp xếp, chuẩn bị chu đáo để toán biệt kích Hector-2 hoàn thành nhiệm vụ trao phó.
        Sau đó toán Hector-2 được phi cơ Hoa Kỳ đưa đến căn cứ không quân Udorn bên Thái Lan, căn cứ này rất rộng lớn của Đệ Thất Không Lực Hoa Kỳ. Tiếp theo, toán biệt kích lên trực thăng và được bay ngang qua đất Lào, xâm nhập vào miền bắc Việt Nam.
        Như đại úy Dũng đã thuyết trình, bãi đáp có vẻ hoang vu, không có người, cách xa làng mạc, trạm lính Bắc Việt. Trong khu vực có giòng suối nước chẩy róc rách, các biệt kích quân có thể hình dung thú rừng đi ăn đêm, mò xuống suối uống nước. Điạ điểm quá lý tưởng và rất an toàn cho toán biệt kích xâm nhập. Từ đó toán Hector-2 có thể xuất phát những chuyến xâm nhập, dò thám đường mòn HCM.
        Hợp đoàn trực thăng bay vào bãi đáp, đại úy Dũng cùng viên thiếu tá Hoa Kỳ đưa toán biệt kích đi xâm nhập, cũng phụ một tay khiêng những thùng đồ tiếp liệu ra nhanh chóng. Ai cũng cười nói vui vẻ, các biệt kích quân cũng vui vẻ (như đi cắm trại), đưa tay lên vẫy khi trực thăng cất cánh bay trở về căn cứ không quân Udorn.
        Chưa được năm phút, từng tràng đạn tiểu liên AK-47 bắn vào toán biệt kích đang xắp xếp những thùng chứa đồ tiếp liệu, vẫn còn trong bãi đáp trực thăng. Mọi người nhận thức nhanh chóng, họ đã lọt vào bẫy.
        Toán phó Vũ Văn Chi, cùng với một biệt kích tên Huân bắn trả lại làm địch im tiếng súng và như tan biến đi. Huân tiến lên, về hướng tiếng súng của địch, rồi bất ngờ tiếng súng đại liên nổ dòn, làm anh ta trúng đạn, ngã xuống. Sau đó tiếng súng gia tăng cường độ, Hoàng Đình Kha bị trúng đạn vào tim, chết tức khắc, máu chẩy ra lênh láng trên mặt đất. Tiếng súng đại liên, tiểu liên của địch vẫn nổ đều, có lẽ họ muốn giết tất cả toán biệt kích Hector-2, thay vì bắn phủ đầu để tiến lên bắt sống.
        Thiếu úy Đặng Đình Thúy chỉ huy ba biệt kích quân chống trả, ông ta bị thương vào tay. Một biệt kích quân bị trúng đạn vào đùi, hai người khác đã trúng đạn nằm chết. Toán biệt kích Hector-2 bố trí rải rác xung quanh bãi đáp trực thăng, chờ đợi “đòn” kế tiếp của lực lượng an ninh, biên phòng miền bắc. Nhưng địch quân chỉ củng cố lại vị trí, chứ chưa dám xung phong.
        Đến sáng hôm sau, trời mưa tầm tã, toán biệt kích Hector-2 đã phân tán ra từng toán nhỏ, chuẩn bị rút ra khỏi bãi đáp “Tử Thần”, tận dụng khả năng mưu sinh, thoát hiểm.
        Đêm trước, toán phó Vũ Văn Chi, Nguyễn Ngọc Nghiã và Tống Văn Thái đã chạy thoát ra khỏi bãi đáp đến một hang động lớn. Họ định sáng hôm sau đi tiếp, nhưng lính Bắc Việt đã đến bao vây. Họ kêu gọi ba người lính biệt kích bước ra khỏi hang, đầu hàng. Chi căn dặn Nghiã và Thái, để anh ra trước, nếu bị họ bắn, cả ba sẽ chiến đấu cho đến hết đạn rồi tự sát. Chi bước ra khỏi hang, bị tước khí giới và trói bằng dây điện thoại. Hầu hết những biệt kích quân sống sót trong toán Hector-2, đều bị bắt trong buổi sáng hôm đó. Riêng hiệu thính viên Nguyễn Văn Định lẩn trốn trong rừng được tám ngày mới bị bắt.
        Bị tấn công bất ngờ, quá sớm, toán biệt kích Hector-2 chưa kịp báo cáo về Nha Kỹ Thuật. Trong thời gian huấn luyện ở Long Thành, toán biệt kích đã được dặn dò, phải báo cáo về trong vòng hai mươi phút, sau khi xuống bãi đáp. Hơn nữa, hiệu thính viên Nguyễn Văn Định lẩn trốn được đến tám ngày. Người hiệu thính viên thứ hai là Nghiã bị bắt vào sáng hôm sau cùng với toán phó Vũ Văn Chi, cũng đã quá thời hạn phải báo cáo. Điều này Nha Kỹ Thuật trong Saigon cũng có thể suy luận ra, toán biệt kích Hector-2 đã bị bắt, bị giết (đúng cả hai).
        Sau khi bị bắt và gom lại, toán biệt kích biết được lính Bắc Việt tấn công họ thuộc trung đoàn biên phòng. Họ đóng quân dọc theo con đường chiến lược, làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho các đơn vị Bắc Việt trên đường di chuyển qua Lào ngang qua tỉnh Quảng bình. Lính Bắc Việt trong đơn vị biên phòng này phát âm giọng Quảng Bình, họ được sự hỗ trợ của các huyện đội điạ phương, để bảo đảm các biết kích quân không thể chạy thoát.
        Hector-1: Nguyễn Hữu Luyện, Bùi Quang Cát, Vũ Đình Giao, Nguyễn Mạnh Hải, Nguyễn Ngọc Lâm, Hoàng Đình Mỹ, Trần Hữu Thức, Nguyễn Văn Thụy, Trần Văn Tiếp, Đỗ Văn Tỉnh, Nguyễn Văn Toàn, Đỗ Văn Tự, Trần Hữu Tuấn, Đinh Văn Vương, Mai Nhuệ Anh, Nguyễn Văn Do, Nguyễn Văn Dũng, Lê Ngọc Kiên, Âu Dương Quy, Hà Trung Huân.
        Hector-2: Đặng Đình Thụy, Vũ Văn Chi, Nguyễn Văn Định, Hoàng Đình Kha, Nguyễn Ngọc Nghiã, Tống Văn Thái, Trương Sĩ Bảo, Ngô Phương Hải, Mai Văn Học, Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Văn Hùng, Phạm Ngọc Linh, Nguyễn Văn Thắm, Vũ Văn Tuấn, Nguyễn Duy Vương, Nguyễn Văn Nuôi, Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Như Anh, Nguyễn Đình Lành, Trần Quốc Quang, Nguyễn Cao Sơn, Trương Nam Trang, Hoàng Văn Trường, Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Tiến Đạo, Trần Văn Tú, Lâm Lợi, Thạch Phan, Xiêng Sơn.

 BẮT ĐẦU CHƯƠNG CUỐI
        Trong mùa Hè năm 1967, đơn vị MACV-SOG gửi những điện văn sai lạc cho những toán biệt kích hoạt động nơi miền bắc, như toán biệt kích Hadley. Đó là một trong những chương trình nhằm đánh lạc hướng, quấy rối miền bắc.
        Sau khi chính quyền Hoa Kỳ ra lệnh ngưng thả bom miền bắc từ mùa Xuân năm 1968, một toán chuyên viên tình báo CIA, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đến Saigon (MACV-SOG) để nghiên cứu tình trạng an ninh của các toán biệt kích hoạt động ngoài bắc, dựa vào những điện văn gửi đến và đi các toán. Và đến mùa Hè, họ kết luận tất cả các toán biệt kích hoạt động nơi miền bắc đều nằm trong tay địch quân.
        Toán chuyên viên cũng cho rằng điệp viên đơn độc (singleton) Ares cũng đã bị bắt luôn. Điều này làm các sĩ quan trong đơn vị MACV-SOG nghiến răng, nhớ lại năm 1964, sau chuyến thả bom miền bắc lần đầu tiên, hôm 5 tháng Tám, điệp viên Ares đã tỏ vẻ vui sướng, thích tiếp tục dội bom.

CHUẨN BỊ TRAO TRẢ TÙ BINH
        Đến cuối năm 1971, các tù binh biệt kích được giam giữ trong ba nhà tù chính (national level): nhà tù Trung Ương số 1, ngoại ô thị trấn Lào Cai, gần biên giới Việt-Trung, nhà tù Tân Lập gần Phú Thọ, trong đồng bằng sông Hồng, về hướng tây nam Hà Nội, và nhà tù Hoành Bộ trên những ngọn đồi nơi hướng đông bắc thành phố ven biển Hòn Gai. Những điệp viên đơn độc (singleton) được phân phối ra một trong ba nhà tù kể trên, như vậy chính quyền Hà Nội có xắp xếp trong việc giam giữ tù binh.
        Những người tù đầu tiên được đưa từ trại tù Phong Quang ra Tân Lập hay Hoành Bộ là những hiệu thính viên trong các toán biệt kích. Trại tù Tân Lập cũng giam giữ nhiều biệt kích quân bị bắt trên đất Miên và Lào. Nhóm tù cuối cùng rời Phong Quang có 47 nguời tù biệt kích mà chính quyền miền bắc liệt kê họ vào thành phần “Không thể cải tạo được”. Họ được đưa đến nhà tù “Phố Lu”, một tên thường gọi cho nhà tù Trung Ương số 1.
        Đến nhà tù “Phố Lu”, họ được chia vào trại K1, lúc đó không có tù nhân, chỉ có vài người đang xây thêm một láng (barrack) thứ ba. Tại đây họ gặp lại Lầu Chí Chấn, người nhái trong toán Cancer, mà lần đầu tiên gặp ở Thanh Trì. Chấn lúc đó là người tù thợ mộc. Đầu năm 1972, một toán tù biệt kích khác được đưa từ nhà tù Quyết Tiến lên Phố Lu, nâng tổng số tù biệt kích lên 167 người. Hai nhóm tù biệt kích được giam trong hai láng phân biệt, có tường ngăn cách.
        Trong tháng kế tiếp, những người tù biệt kích được “học tập” đề tài “Trao trả tù binh” và trong thời gian này họ không phải đi lao động. Và họ được cán bộ chính trị “an ủi” rằng “Thực sự, Nhà Nước có nghĩ đến các anh, và hy vọng các anh được trở về với gia đình. Đó là do các anh tấn công chúng tôi. Chính các anh xâm lăng miền bắc, với ý đồ lật đổ chính quyền. Các anh đã vi phạm luật pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đúng ra các anh không được trả tự do, nhưng vì chính sách khoan hồng của Nhà Nước, Nhà Nước sẽ cứu xét hồ sơ các anh để quyết định, các anh có được trở về với gia đình hay không”.
        Ngày 27 tháng Giêng năm 1973, hiệp định Đình Chiến Paris được ký kết. Các tù biệt kích trong nhà tù Phố Lu được đọc vài điều khoản trong hiệp định. Họ phấn khởi tin rằng sắp được trả tự do. “Tất cả những ai liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam đều được trao trả”.
        Các tù binh biệt kích được đưa trở về trại K1 trong tháng Hai năm 1973, cán bộ đem vào trại máy may để may quần áo mới. Chiếc máy may làm việc 24 tiếng đồng hồ một ngày hoàn tất nhiệm vụ nhanh chóng. Mỗi người tù được hai bộ quần áo mới, túi vải để đựng hành trang và mũ vải. Nhưng cán bộ thâu tất cả lại, cất vào kho, sẽ phát cho tù nhân đúng lúc (trao trả tù binh).
        Vài tuần lễ sau, trong thời gian vấn đề trao đổi tù binh vẫn đang diễn ra, các tù biệt kích muốn tìm một cán bộ nhà giam để hỏi, khi nào họ sẽ được trao trả (về miền nam) và như thế nào. Họ không thể gặp vị chỉ huy trại giam, thiếu tá Ngô Bá Toàn, vì ít khi ông ta vào trong khu nhốt tù. Cuối cùng họ gặp thiếu úy Xy, trưởng ban “cải huấn” và phụ tá của ông ta, thượng sĩ Hào Liêu. Câu trả lời thẳng thừng của họ làm các biệt kích quân như trên trời rơi xuống đất.
        “Đừng mong!”, hai người cán bộ vừa cười vừa trả lời. “Đừng mong, một người nào trong các anh được trao trả. Nếu các anh đọc kỹ bản hiệp định, không có điều khoản nào nhắc nhở đến các anh. Hoàn toàn không! Tuyệt đối không!”
        “Có mà. Tất cả những ai liên quan đến cuộc chiến Việt Nam.”
        Cán bộ Xy chỉ lắc đầu cười. Các biệt kích quân có cảm tưởng như trời đất đang xụp đổ. Cứ mỗi đêm, họ được nghe đài phát thanh Quân Đội Nhân Dân qua loa phóng thanh về các cuộc trao đổi tù binh bên bờ sông Thạch Hãn. Số tù binh được trả lại cho miền bắc nhiều gấp ba bốn lần số được trả lại cho miền nam. Rồi đến lượt các tù binh Hoa Kỳ được trao trả...
        Bắt đầu từ tháng Hai năm 1973, các tù binh Hoa Kỳ bị giam giữ ở Hà Nội được chuyển giao cho đại diện Hoa Kỳ và đưa sang căn cứ không quân Clark ở Philippines. Tại đây, các tù binh Hoa Kỳ được khám sức khoẻ, qua thủ tục “an ninh”. Một thiếu tá Lục Quân đưa một số người đại diện các cơ quan dân chính (của Hoa Kỳ) từ Saigon bay qua Philippines để nghe những tù binh Hoa Kỳ trở về thuyết trình.
        Những người đại diện có thể đặt những câu hỏi liên quan tới vấn đề tù binh chiến tranh đã được cơ quan An Ninh Quốc Phòng định nghiã. Cũng cơ quan này trong năm 1965 đã ủng hộ đơn vị MACV-SOG và cho rằng nhũng biệt kích quân xâm nhập miền bắc đã đem về nhiều tin tức tình báo giá trị.
        Nhưng không may cho vị đại diện cho cơ quan An Ninh Quốc Phòng (DIA), trung tá Hải Quân Charles Trowbridge, ông ta không có hồ sơ nào về các biệt kích quân Việt Nam ký giao kèo làm việc cho đơn vị MAVC-SOG. Thực ra cơ quan An Ninh Quốc Phòng chỉ lo cho người Hoa Kỳ, nên không đặt câu hỏi về các biệt kích quân Việt Nam vẫn còn bị giam giữ nơi miền bắc Việt Nam.
        Người tù binh Hoa Kỳ cuối cùng được trao trả vào ngày 1 tháng Tư năm 1973. Sau đó trung tá Trowbridge phải bớt nhân viên trong ban làm việc, nên bỏ qua luôn chuyện các biệt kích quân Việt Nam. Theo những báo cáo trước đây, các biệt kích quân đã chết, và nếu họ vẫn còn sống thì chính quyền VNCH phải lo cho họ, chứ không phải chính quyền Hoa Kỳ.
        Trong số những công dân Hoa Kỳ (dân chính) được trao trả có Larry Stark và Bob Olsen. Hai người Hoa Kỳ này bị giam cạnh phòng biệt kích quân Việt Nam: Lê Văn Ngung, Nông Văn Hinh và Mộc A Tài trong khu trại giam B, nhà tù Tranh Trì. Những điều hai người nói ra, phiá đại diện Hoa Kỳ không ai thèm để ý (Số phận của gần 400 tù biệt kích vẫn còn bị giam giữ).
        Trung úy Nguyễn Quốc Đạt thuộc Không Quân VNCH, được các tù biệt kích coi như anh hùng. Ông Đạt cũng bị giam cầm nơi miền bắc, và được nhiều tù binh Hoa Kỳ nhắc đến. Họ lên tiếng chính quyền Hoa Kỳ phải làm điều gì cho ông Đạt. Và qua sự can thiệp của người Hoa Kỳ, phi công Nguyễn Quốc Đạt được trao trả, cùng với phi công Phan Thanh Vân, người lái chiếc C-47 chở biệt kích MACV-SOG bị bắn rơi ở Ninh Bình ngày 1 tháng Bẩy năm 1961.
        Không phải tất cả các biệt kích quân đều bị bắt ở ngoài bắc, chín trong số mười biệt kích quân Việt Nam trong toán Illinois bị bắt ở bên Lào cùng với trung sĩ TQLC Hoa Kỳ Frank Cius và trung sĩ Ronald Dexter, trưởng toán biệt kích đều được Bắc Việt trao trả bên bờ sông Thạch Hãn. Trong đó có Nguyễn Văn Chiến, người thông ngôn trong toán biệt kích. Riêng biệt kích quân thứ mười Hà Văn Sơn vì thái độ ngoan cố nên không được trao trả.
        Nhân viên làm việc dưới quyền đại tá William LeGro thuộc cơ quan DAO phỏng vấn Nguyễn Văn Chiến để biết số phận toán biệt kích Illinois, cùng với trung sĩ Dexter (không có trong danh sách trao trả). Chiến cho biết, chiếc trực thăng Chinook chở toán biệt kích Illinois bị bắn rơi trên đất Lào và cả toán bị quân đội Bắc Việt bắt sống. Trên đường áp giải toán biệt kích ra Hà Nội, khi đi ngang qua Thanh Hóa, trung sĩ Dexter bị giết chết.
        Nhưng khi anh Chiến đòi tiền lương của anh ta kể từ ngày bị bắt, người phỏng vấn anh... hốt hoảng! Cơ quan DAO báo về văn phòng cơ quan Tình Báo Quốc Phòng (DIA) ở Washington về tiền lương của các biệt kích quân... Người Hoa Kỳ bực tức.
       
TUYỆT THỰC PHẢN ĐỐI
        Căm phẫn vì bị bỏ rơi, các biệt kích quân tổ chức cuộc tuyệt thực phản đối, bắt đầu từ ngày 4 tháng Sáu năm 1973. Thiếu tá Toàn ra lệnh cho lính canh gác “Dẹp tan những mầm mống chống đối”. Câu chuyện sau đây được nhiều cựu biệt kích quân kể lại.
        Một toán lính bảo vệ, võ trang tiểu liên AK-47, xông vào láng F3 đánh đập tù nhân. Họ dùng báng súng đánh và lùa tù nhân ra khỏi láng. Nhiều người bị lôi ra sân. Sau đó, họ cho chó Berger vào trong láng, cắn xé những người chưa ra kịp.
        Ra đến ngoài sân, các tù nhân được các cai tù đứng hàng dài cầm cùm sắt “đón chào”, vung tay đánh đập, cho đến khi người tù bò lết đến cuối hàng, rồi bị lôi vào cùm biệt giam. Mấy cai tù khác cũng xông vào đánh tiếp cho đến khi tù nhân bất tỉnh.
        Các tù nhân bị cùm chân trên bệ (làm giường) bằng xi măng. Dội nước lạnh cho tỉnh lại rồi bị đánh tiếp cho đến khi ngất xỉu lần nữa. Nguyễn Văn Tân, Vũ Viết Tịnh, Đặng Công Trình, Nguyễn Huy Khoan, Mộc A Tài, Nguyễn Văn Trinh, Đặng Đình Thúy, Trần Quốc Định, Nguyễn Văn tập, Nông Tập, Nông Văn Hinh, trông như những tấm giẻ rách dính đầy máu.
        Tiếp theo nhà tù Phố Lu báo động. Tất cả cai tù, lính canh, bảo vệ được huy động đến bao vây khu K1. Lúc đó, thiếu tá Toàn không có mặt, thượng úy Nguyễn Văn Tuấn phải đối diện với những khó khăn đang xẩy ra trong khu giam tù biệt kích. Lẽ dĩ nhiên, ông ta không sợ đám biệt kích, chỉ sợ bị mất việc. Ông ta nói lớn “Các anh sẽ phải đối diện với thực tế, chúng tôi hoàn toàn kiểm soát các anh. Các anh nằm trong bàn tay chúng tôi, chỉ cần bóp mạnh, các anh sẽ chết hết. Chúng tôi nhẹ tay các anh mới thở được. Ai nghĩ rằng làm chuyện này là điều tốt, cứ tiếp tục tuyệt thực, chúng tôi sẽ thanh toán tất cả”.
        Ba biệt kích quân can đảm bước ra. Lầu Chí Chấn, một người nhái trong toán Cancer bị bắt trong vịnh Bắc Việt năm 1966, bước lên trước mặt thượng úy Tuấn, phanh ngực áo nói lớn “Ông có giỏi cứ bắn đi! Bắn đi! Lũ cộng sản khát máu! Cứ bắn tôi đi!”
        Thượng úy Tuấn, không ngờ một người tù biệt kích phản ứng như thế. Ông ta quay lưng bỏ ra ngoài, để cai tù khoá cửa lại. Không dè gặp những trường hợp khó xử, thượng úy Tuấn quyết định rất tốt “Không làm gì cả, vẫn tốt hơn làm điều sai”.
        Thiếu tá Toàn, được tin vội quay trở về nhà tù Phố Lu. Ông ta dắt ban tham mưu đi thẳng đến láng F2. Nhìn đám tù biệt kích tiều tụy vài giây, thiếu tá Toàn nói nhỏ nhẹ “Các anh thật là dại, các anh làm chuyện dại dột. Tại sao các anh tuyệt thực? Các anh nhìn nhau mà xem, các anh rất ốm yếu. Các anh đang chết lần mòn, ai là người thua thiệt? Chính các anh là những người phải chịu đựng. Các anh nên ăn uống để lấy lại sức khỏe, rồi một ngày nào đó, biết đâu, Đảng sẽ để cho các anh trở về với... gia đình. Sẽ được trao trả (cho VNCH).
        Thiếu tá Toàn nói tiếp “Các anh thật là điên rồ. Tôi được nghe nói các anh muốn được trao trả theo bản hiệp định Paris. Chúng tôi đã cho các anh biết rõ... Nhưng ngoài khả năng, quyền hạn của tôi. Còn chuyện các anh muốn chúng tôi thả anh Thụy (Thiếu úy QLVNCH Đặng Đình Thụy, cố vấn toán Hector-2), tôi có thể giải quyết ngay... sẽ thả anh ta ra trong chiều nay. Trở lại bản hiệp định Paris, rõ ràng ngoài thẩm quyền của tôi. Tôi chỉ là người giữ chìa khóa (nhà tù). Khi Nhà Nước ra lệnh làm điều này, điều nọ, chuyện đó phải xong. Khi Nhà Nước ra lệnh đàn áp, chúng tôi phải thẳng tay. Nhà Nước mong tôi làm tròn nhiệm vu.”
        Đó cũng là lần đầu tiên ông ta dùng chữ “trao trả”... Nhưng đã quá muộn màng cho những người tù biệt kích. Thiếu tá Toàn kết thúc “Các anh muốn chúng tôi thả anh Thúy ra. Chúng tôi sẽ thả ra nội trong chiều hôm nay. Các anh đồng ý chứ? Phải ăn uống trở lại để giữ gìn sức khoẻ”. Cuộc “đại chiến” kết thúc êm thắm. Đến tháng Bẩy, tất cả tù biệt kích trong hai láng F1, F2 được lệnh chuẩn bị di chuyển. Nhưng thật ra họ chỉ chuyển 21 người tù “sừng sỏ” đưa lên nhà tù Quyết Thăng.

TRỞ LẠI NHÀ TÙ QUYẾT THẮNG
        Trong nhà tù Quyết Thắng, đám tù biệt kích mới được chuyển lên, bị bớt khẩu phần ăn, phải làm việc lao động nhiều giờ hơn phải phải viết bản kiểm thảo. Những người không chịu viết bản kiểm thảo: Lê Văn Ngung, Nguyễn Minh Châu, Đặng Đình Thụy, Trần Ngọc Bình... đều bị tống vào khu kỷ luật... cùm biệt giam.
        Mùa đông nơi miền bắc năm 1973 bắt đầu có “hiệu qủa” đối với những người tù biệt kích, với chế độ ăn uống không đủ no, thiếu dinh dưỡng. Một hôm cán bộ vào phòng giam Lê văn Ngung và Nguyễn Văn Tập, họ nhìn thấy nhiều sợi tóc trên nền nhà, nghi ngờ tù nhân dấu lưỡi lam, dao cạo râu.
        “Dao cạo râu đưa ra đây ngay. Ai cho phép các anh cắt tóc?”. Lê Văn Ngung trả lời “Tôi bị rụng tóc”. Trả lời xong anh Ngung đứng dậy, đưa tay lên vuốt mái tóc, một ít sợi tóc rơi xuống đất. Tháng Mười Hai năm đó, chín người tù biệt kích được cho ra khỏi khu biệt giam: Lê Văn Ngung, Hoàng Văn Văn, Hoàng Tân, Nguyễn Văn Tập, Hoàng Ngọc Chính, Nông Văn Hinh, Lê Ngọc Kiên, Trần Quốc Định và Lầu Chí Chấn. Các bạn biệt kích khác nhìn thấy người nào cũng chỉ còn bộ xương, nặng không đến 40 kí lô.
        “Anh là ai?” Lê Ngọc Kiên, một biệt kích trong toán Hector-2 lên tiếng hỏi.
        “Anh biết tôi à?” Lê Văn Ngung trả lời. Cả hai người bị giam chung năm 1969 trong trại tù Phong Quang và trong nhà tù Phố Lu năm 1973, và kết thân với nhau. Lúc đó họ không còn nhận ra người bạn đồng cảnh ngộ.
        Thời gian lặng lẽ trôi qua. Đến tuần lễ đầu trong tháng 5 năm 1975, cán bộ vào phòng giam sung sướng cho đám tù biệt kích biết “Chúng tôi đã giải phóng Saigon. Việt Nam Cộng Hòa đã xụp đổ. Ngụy quyền đã đầu hàng.”
        Tất cả biệt kích quân đều sửng sốt. Họ tê tái không biết hỏi gì thêm. Rồi được cho xem hình ảnh đoàn chiến xa Bắc Việt di chuyển trên xa lộ Biên Hòa tiến về Saigon. Trước đó họ vẫn cho rằng cán bộ chỉ khoác lác, tuyên truyền cho họ mất niềm tin... Nhưng bây giờ, những tấm ảnh chụp thành phố Saigon đầy lính Bắc Việt trên đường... và khắp mọi nơi.

        Đến cuối năm 1977, các tù biệt kích được đưa lên trại tù Tuyên Quang gần biên giới Hoa Việt. Đến năm 1978, lợi dụng tình hình căng thẳng giữa Trung Cộng và Việt Nam, Vòng A Cầu và Lê Trung Tín, cùng với một số tù hình sự khác, trốn thoát qua biên giới Trung Hoa. Họ là hai người tù biệt kích đầu tiên và cũng là duy nhất trốn thoát khỏi gông cùm nhà tù.       
Dallas, Texas
Vđh






No comments:

Post a Comment